Thích Viên Thành

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Hòa thượng
Thích Viên Thành
Thích Viên Thành
Cố Hòa thượng Thích Viên Thành
Hoạt động tôn giáo
Tôn giáoPhật giáo
Tông pháiTam thừa Phật giáo, đặc biệt là Phật giáo Kim Cương Thừa, Truyền thừa Drukpa
Xuất giaHà Tây
Uỷ viên thường trực Hội đồng Trị sự
Giáo hội Phật giáo Việt Nam
Nhiệm kỳ1993 – 2002
Phó ban Giáo dục Tăng Ni Trung ương
Giáo hội Phật giáo Việt Nam
Nhiệm kỳ1998 – 2002
Trụ trì chùa Thầy
Nhiệm kỳ1984 – 2002
Tiền nhiệmHòa Thượng Thích Tâm Quyến
Trụ trì Chùa Hương
Nhiệm kỳ1985 – 2002
Tiền nhiệmThích Thanh Chân
Kế nhiệmThích Minh Hiền
Thông tin cá nhân
SinhPhùng Xuân Đào
(1950-07-15)15 tháng 7, 1950
làng Thượng Cát, huyện Từ Liêm, Hà Nội
Mất(2002-05-31)31 tháng 5, 2002
ChaPhùng Xuân Chỉ
MẹNguyễn Thị Thìn
Quốc tịch Việt Nam
DharmaWheelGIF.gif Chủ đề:Phật giáo

Thích Viên Thành là một tu sĩ Phật giáo Việt Nam, người đã có công hạnh đưa giáo pháp Truyền thừa Drukpa hoằng truyền vào Việt Nam từ năm 1992 với tâm nguyện đem sự thực hành của truyền thống Kim Cương Thừa góp phần vào sự phát triển của Phật giáo Việt Nam vì lợi ích người dân và hữu tình trong nước.[1]

TIỂU SỬ[sửa | sửa mã nguồn]

Hoà thượng Thích Viên Thành, thế danh Phùng Xuân Đào, sinh ngày 15/07/1950 (01/06 năm Canh Dần) tại làng Thượng Cát, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Thân phụ là cụ ông Phùng Xuân Chỉ, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Thìn.

Tuy tuổi đời còn rất nhỏ nhưng chí khí xuất trần của Thượng tọa rất mãnh liệt qua vần thơ Tạ từ chú đi tu vào năm 12 tuổi:

“Chú ơi! Xin chú hiểu lòng tôi,

Giờ phút chia tay đã đến rồi.

Vẫn biết gia phong cần giữ đấy,

Nhưng vì chân lý phải đành thôi.

Cỏ hoa tuế nguyệt còn thay đổi,

Dâu biển xưa nay vẫn lở bồi.

Nay nếu không đi cầu Chính Pháp,

Sợ sau sẽ phải hối muôn đời.

Chú ơi! Ân nghĩa cháu không quên,

Nguyện chứng chân như sẽ báo đền,

Chú ở lại nhà xây tổ nghiệp,

Cháu đi cầu Pháp cứu oan khiên.

Kẻ vun cội Phúc cho tươi tốt,

Người đắp nền Nhân thật vững bền.

Chú cứ yên tâm đừng có ngại,

Cháu thề quyết chí gắng tu nên.”

  • Năm 15 tuổi, Ngài được Sư tổ Thích Thanh Chân, động chủ Hương Tích đời thứ 10, xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây thu nhận làm đệ tử.
  • Năm 19 tuổi, Ngài được Hoà thượng Bản Sư cho thụ giới Sa Di.
  • Đến năm 1972, Ngài được đăng đàn thụ Cụ túc, viên mãn Tam đàn Giới pháp tại Tỉnh hội Phật giáo Hà Sơn Bình.
  • Nhận thấy Hoà thượng Thích Viên Thành lúc đó có chí cầu học, siêng năng đèn sách nên Hoà thượng Thích Thanh Chân kỳ vọng Ngài sẽ là Pháp khí trong Ðạo Pháp nên đã cho phép Hoà thượng xuống núi theo học trường Trung cấp Phật học tại chùa Quảng Bá và Quán Sứ, Hà Nội niên khoá 1973-1976.
  • Trong thời gian theo học tại chùa Quán Sứ, Hoà thượng không những xuất sắc về mặt học vấn mà còn tinh nghiêm cả về Giới luật nên khi tốt nghiệp, được Giáo hội tuyển chọn vào Trường Cao cấp Phật học Việt Nam (nay là Học viện Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội) Khoá I, niên khoá 1981-1985.
  • Năm 1984, khi còn theo học Trường Cao cấp Phật học Việt Nam, đáp lời thỉnh cầu tha thiết của chính quyền và nhân dân địa phương, Hoà thượng về nhận lãnh trách nhiệm trụ trì chùa Thầy - Thánh tích của ngài Từ Đạo Hạnh.
  • Năm 1985, tốt nghiệp Trường Cao cấp Phật học Việt Nam, Hoà thượng trở về chốn Tổ, phụng sự Tam Bảo và bắt đầu hoằng dương Phật pháp. Với giới đức trang nghiêm và hạnh nguyện từ bi vô ngại, Ngài đã được Sư Tổ đời thứ 10 tức Hoà thượng Thích Thanh Chân tin tưởng trao truyền kế đăng Ðộng chủ Hương Tích, trụ trì Chùa Hương.
  • Năm 1987, tại Đại hội Phật giáo Việt Nam kỳ III, ngài được tấn phong giáo phẩm Thượng tọa. Được suy cử vào Hội đồng trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
  • Tại Ðại hội kỳ III Tỉnh hội Phật giáo Hà Tây, Hoà thượng được bầu làm Phó ban Trị sự Kiêm Chánh thư ký Tỉnh Hội.
  • Ðể tiếp dẫn hậu lai, báo Phật ân đức, Hoà thượng đã cùng Chư tôn đức thành lập Trường Trung cấp Phật học tỉnh Hà Tây và Ngài được giao trọng trách làm Phó hiệu trưởng thường trực của Trường. Trong các Ðại giới đàn, Hoà thượng từng được cung thỉnh làm Yết Ma A Xà Lê sư, Tôn chứng sư.
  • Năm 1992, nhân duyên cát tường hội đủ, theo lời mời riêng của ông John (Đại sứ Anh tại Bhutan lúc bấy giờ), Ngài đã viếng thăm Vương quốc Bhutan để hạnh ngộ bậc Kim Cương Thượng sư truyền thừa Drukpa là Đức Giáo chủ Je Khenpo, và thọ nhận các Giáo pháp Quán đỉnh cốt tủy của truyền thừa Drukpa từ bậc Thầy của mình để hướng dẫn các đệ tử và Phật tử thực hành giáo pháp tinh túy và chân chính của Kim Cương thừa.
  • Năm 1993, Ngài được bầu làm Uỷ viên thường trực Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, đồng thời là Phó ban Từ thiện Trung ương và là Uỷ viên ban Hoằng pháp Trung ương.
  • Từ năm 1998, Hoà thượng được suy cử làm Phó ban Giáo dục Tăng Ni Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam và Trưởng ban Trị sự Phật giáo tỉnh Phú Thọ.

Suốt đời, Hoà thượng luôn tâm niệm: Chỉ có Trí Tuệ mới là sự nghiệp chân chính của người xuất gia nên khi về đến Phương trượng là ngài tập trung vào việc nghiên cứu, trước tác, dịch thuật.

Tuy phải điều hành Phật sự tại hai chốn danh lam lớn là chùa Hương và chùa Thầy, lại nhận lĩnh các chức vụ của Phật giáo tỉnh nhà cũng như của Giáo hội nhưng Thượng toạ cũng luôn tích cực tham gia các hoạt động xã hội tại địa phương. Bất kỳ ở cương vị nào Hòa thượng Thích Viên Thành cũng đều tận tâm, nêu gương tiêu biểu trong việc tốt đạo đẹp đời. Ngài nhận lĩnh các công việc, các chức vụ chỉ vì lợi ích cho số đông, cho đồng bào và dân tộc.

Do những công lao đóng góp cho Ðạo pháp và Dân tộc, Ngài đã được Ðảng, Nhà nước và Giáo hội tặng thưởng nhiều bằng khen và giấy khen như Huân chương Lao động hạng Ba, Huy chương Vì sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc, Huy chương Vì sự nghiệp bảo tồn văn hoá dân tộc, Huy chương Vì sự nghiệp nhân đạo...

Với sở học uyên thâm, giới đức trang nghiêm, từ bi vô lượng, những tưởng Hòa thượng còn trụ thế lâu hơn để hướng dẫn Tăng Ni và Phật tử trên con đường tìm về bến giác.

Nào ngờ cơn bạo bệnh chợt đến, Hòa thượng thuận lẽ vô thường trả tấm thân tứ đại lại cho trần gian mộng ảo để trở về thế giới vô tung bất sinh bất diệt vào lúc 18 giờ 40 phút ngày 31 tháng 5 năm 2002 (tức ngày 20 tháng 4 năm Nhâm Ngọ), trụ thế 53 năm, hạ lạp 32 năm, để lại tâm nguyện tha thiết hướng về phát triển của Truyền thừa Drukpa tại Việt Nam.

53 năm tuy ngắn ngủi nhưng Hòa thượng đã sống một cách trọn vẹn, đầy ý nghĩa, đã hiến trọn cả cuộc đời cho Ðạo pháp, cho Dân tộc. Hạnh nguyện vô ngã, vị tha của Hoà thượng luôn là tấm gương sáng, là ngọn hải đăng soi sáng cho Tăng Ni, Phật tử hôm nay và mãi mãi về sau!

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]