Thông Giác Đạo Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Tượng tổ Thông Giác tại Chùa Nhẫm Dương, Hải Dương

Thiền Sư Thủy Nguyệt hiệu Thông Giác Đạo Nam(通覺水月) (1636-1704) là sơ tổ của Tào Động Tông Việt Nam, đời thứ 31 Tào động Tông. Người đầu tiên đem thiền phái Tào Động tới Việt Nam. Sư là bậc thiền sư tu hành chứng đắc, đạo quả viên thành, là bậc thiền sư nổi tiếng đức cao vọng trọng trong Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam. Sư từng đến Hồ Châu, Trung Quốc tu thiền và đắc pháp nơi Tổ Nhất Cú Tri Giáo(一 句 知 教) - chính truyền Tào Động đời thứ 30, được Tổ truyền tâm ấn và dặn dò về việt nam hoằng dương chính pháp. Sau này Thiền Sư Thủy Nguyệt đem tâm ấn truyền lại cho đệ tử Chân Dung Tông Diễn nối tiếp pháp mạch Tào Động Việt Nam

Cơ duyên hành trạng[sửa | sửa mã nguồn]

Sư sanh năm Đinh Sửu (1637), quê ở Thanh Triều, huyện Ngự Thiên, phủ Tiên Hưng, đạo Sơn Nam, con nhà họ Đặng. Vừa lớn lên, Sư theo học Nho giáo, đến 18 tuổi thi đậu Cống cử tứ trường. Năm 20 tuổi, Sư chán cõi đời vô thường khởi ý chí tu hành giải thoát, lại thích tu thiền học đạo theo các Thiền Sư tu thiền. Sư bỏ nghiệp Nho, tìm đến chùa xã Hỗ Đội, huyện Thụy Anh xin xuất gia học đạo. Ở đây sáu năm học các kinh sách, Sư chưa thỏa mãn, xin phép thầy đi du phương tham vấn.

Sư đi tham vấn rất nhiều bậc tôn túc trong nước, nhưng không khế hợp. ,

Năm 28, Sư quyết chí sang Trung Quốc tầm học. Tháng 3 năm Giáp Thìn (1664) niên hiệu Cảnh Trị triều Lê,sư bắt đầu hành trình sang Trung Quốc tìm thầy học đạo.

Một hôm qua suối, sư ngẫu hứng làm thơ

" Non nước với ta có nhân duyên

         Đã lội suối rồi lại vượt non

         Nước rửa bụi trần nhọc nhằn hết

         Núi nâng chân bước ngàn đạo cao." (Thich Thanh Từ dịch)

Năm Ất Tỵ (1665) sư mới đến đất Châu Hỗ, sau nhiều ngày đi đường hỏi han sư đến được núi Phượng Hoàng(nay là núi Nhân Hoàng), nơi đây có Thiền Sư Tri Giáo đang xiển dương Tào Động, chùa ấy nay là Nhân Vương Hộ Quốc Thiền Tự.

Đến Nhân Vương Thiền Tự vì bất đồng ngôn ngữ nên sư chưa thể nhập chúng tu. Sư bèn kết am trước chùa ngày học tiếng Hán, đêm tọa thiền.

Sau 3 tháng, sư thông thạo tiếng trung. Đến ngày mùng một đầu tháng, Sư xin được yết kiến tổ tri giáo, sư được cho đến phương trượng gặp tổ tri giáo. Sự đối đáp Thiền giữa sư và tổ tri giáo được ghi lại như sau:

" Hòa thượng cất tiếng hỏi:

- Trước khi cha mẹ chưa sanh, trong ấy cái gì là bản lai diện mục của ngươi ?

Sư thưa: - Mặt trời sáng giữa hư không.

Hòa thượng nói:- Ba mươi gậy, một gậy không tha.

Sư lại lễ rồi cuốn chiếu. Hòa thượng bảo:

- Cho ngươi nhập chúng, tùy theo chúng tham vấn." (Thiền Sư Việt Nam- Thích Thanh Từ biên soạn).

Sư từ đây nhập chúng tu tập, theo chúng học kinh điển, làm lao tác. Sau một năm sư xin tổ Tri Giáo cho truyền giới Tỷ Khâu.Đến tháng 4 cùng năm, tổ tri giáo thiết đàn chứng minh sư cho sư thọ giới.

Trải qua 6 năm tu học ở Trung Quốc, một hôm tổ tri giáo gọi sư vào khảo chứng công phu của sư. Công án được ghi lại như sau:

" Một hôm Hòa thượng gọi Sư vào phương trượng hỏi:- Đã thấy tánh chưa ?

Sư ra lễ bái, trình kệ:

         Sáng tròn thường ở giữa hư không

         Bởi bị mây mê vọng khởi lồng

         Một phen gió thổi mây tứ tán

         Thế giới hà sa sáng chiếu thông.

         (Viên minh thường tại thái hư trung

         Cương bị mê vân vọng khởi lung.

         Nhất đắc phong xuy vân tứ tán,

         Hằng sa thế giới chiếu quang thông.)

Hòa thượng đưa tay điểm trên đầu Sư cho hiệu là Thông Giác Đạo Nam Thiền sư và bài kệ:

         Tịnh trí thông tông

         Từ tính hải khoan

         Giác đạo sinh quang

         Chính tâm mật hạnh

         Nhân đức vi lương

         Tuệ đăng phổ chiếu

         Hoằng pháp vĩnh trường. " (Thiền Sư Việt Nam- Thích Thanh Từ biên soạn).

Rồi sư được tổ sách tấn: " Ngươi về nên tinh tấn làm Phật sự, giảng nói đề cao chánh pháp, không nên chần chờ để tâm theo với vọng trần, trái lời Phật, Tổ dặn dò; ngươi thành tâm đi muôn dặm đến đây nay tôi cho một bài kệ để gắng tiến:

         Rừng quế gương đưa đèn nối sáng

         Thu về đâu đấy ngát mùi hương

         Vì người xa đến treo gương báu

         Từ biệt ta về chỉ sợi vàng.

         Ai vào núi Phượng nghìn trùng tuyết

         Dường có An Nam một vị tăng

         Nửa đêm áo gấm ra sau núi

         Như ở chân trời thấy mặt trăng.

         (Quế nham suy phức tục truyền đăng

         Thu nhập trường không quế bích đằng

         Trì nhĩ viễn lai khai bảo kính

         Từ dư qui khứ thị kim thằng.

         Thùy thâm Phượng lĩnh thiên trùng tuyết

         Cáp thụ An Nam nhất cá tăng

         Dạ bán cẩm hà sơn hậu khởi

         Hạo tùng thiên tế thức thăng hằng.)"(Thiền Sư Việt Nam- Thích Thanh Từ biên soạn)

Rồi sư trở về nước đi qua tỉnh Cao Bằng thăm lại mộ đệ tử xưa. Tại đây có nhiều người vì kính đức hạnh cúa sư à xin được quy y, thọ giới với sư.

Sư đi nhiều nơi như chùa Vũng Lão trên núi Yên Tử, Quỳnh Lâm tìm người khế hợp.

Sau sư đến trụ trì tại chùa Hạ Long ở Đông Sơn, huyện Đông Triều. Sư ở đây xiển dương tông phong Tào Động người đến tham học rất đông đúc.

Rồi sư đến chùa Thượng Long bái biệt vị cao tăng trên ấy. Chiều hôm đó, sư cho gọi đệ tử Tông Diễn truyền pháp kệ:

Nước cốt tuôn ra rửa bụi trần

         Sạch rồi nước lại trở về chân

         Cho ngươi bát nước cam lồ quí

         Ân tưới chan hòa độ vạn dân.

         (Thủy xuất đoan do tẩy thế trần

         Trần thanh thủy phục nhập nguyên chân.

         Dữ quân nhất bát cam lồ thủy,

         Sái tác ân ba độ vạn dân.)

"(Thiền Sư Việt Nam- Thích Thanh Từ biên soạn).

và bài kệ:

"Núi dệt gấm, nước vẽ hình

         Suối ngọc chảy, tuôn rượu đà tô.

         Bờ cúc nở hoa hoàng oanh hót

         Nước trong sóng biếc cá Điệp nhào.

         Trăng sáng rỡ ràng ông chài ngủ

         Trời soi rừng rực kén nằm nhô.

         Sơn chức cẩm thủy họa đồ

         Ngọc tuyền dũng xuất bạch đà tô

         Ngạn thượng hoàng hoa oanh lộng ngữ

         Ba trung bích thủy điệp quần hô."(Thiền Sư Việt Nam- Thích Thanh Từ biên soạn).

Rồi sư cáo biệt đại chúng, lên núi Nhẫm Dương tọa thiền mà tịch.

Ngày 6 tháng 3 năm Giáp Thìn, niên hiệu Chính Hòa thứ hai mươi, đời vua Lê Hi Tông (1704), Sư thọ 68 tuổi. Tứ chúng thỉnh nhục thân Sư về hỏa táng chia linh cốt thờ hai nơi, một ở chùa Hạ Long, một ở hang núi Nhẫm.

Sư có để lại cuốn Nam Thiên Đệ Nhất Tổ Sư Ngữ Lục.

Tham Khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thủy Nguyệt Thiền Sư Ngữ lục
  • Thiền Uyển Kế đăng Lục- Thiền Sư Từ Sơn biên soạn, Thích Thiện Phước dịch.
  • Thiền Sư Việt Nam - Thích Thanh Từ biên soạn.