Bước tới nội dung

Thông tin bịa đặt

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Minh họa thông tin bịa đặt trong một hồ sơ bệnh án
Tin đồn thất thiệt về chuyện cư dân nhập cư Haiti ăn thịt chó mèo đã được ông Trump khi tranh cử tuyên bố: "Springfield, họ đang ăn thịt chó. Những người nhập cư đang ăn thịt mèo".[1]

Thông tin bịa đặt (Disinformation) hay Thông tin giả mạothông tin sai lệch hoặc gây hiểu lầm mà được cố ý lan truyền để lừa dối mọi người,[2][3][4][5][6] hoặc để đảm bảo lợi ích kinh tế, hoặc động cơ chính trị và có thể gây hại cho công chúng.[7] Thông tin bịa đặt là một thủ đoạn được dàn dựng tinh vi, trong đó các tác nhân sử dụng các lừa dối chiến lược và các chiến thuật thao túng truyền thông để thúc đẩy các mục tiêu chính trị, quân sự hoặc thương mại.[8] Thông tin bịa đặt được thực hiện thông qua các chiến dịch phối hợp[9] nhằm "vũ khí hóa nhiều thủ pháp câu từ và các cách hiểu biết, bao gồm không chỉ những điều sai trái mà còn cả sự thật, sự thật nửa vời, và phán đoán giá trị từ đó khai thác và thổi phồng các cuộc chiến tranh văn hóa và thúc đẩy các cuộc tranh cãi".[10] Ngược lại, thông tin sai lệch (Misinformation) đề cập đến những điểm không chính xác bắt nguồn từ lỗi vô ý.[11] Thông tin sai lệch có thể được sử dụng để tạo ra thông tin bịa đặt khi thông tin sai lệch đã biết được phổ biến một cách có mục đích và cố ý.[12] Tin giả (Fake news) đôi khi được phân loại là một loại thông tin bịa đặt, nhưng các học giả đã khuyên không nên sử dụng hai thuật ngữ này thay thế cho nhau hoặc sử dụng hoàn toàn "tin giả" trong văn bản học thuật vì các chính trị gia đã vũ khí hóa nó để mô tả bất kỳ thông tin tin tức hoặc thông tin không có lợi nào cho họ.[13] Gần đây nhất, thông tin bịa đặt đã được cố ý lan truyền qua mạng xã hội dưới dạng "tin giả", thông tin bịa đặt được ngụy trang dưới dạng các bài báo tin tức hợp pháp và nhằm đánh lừa người đọc hoặc người xem.[14]

Giới học giả đều nhất trí rằng có một mức độ cao thông tin sai lệch, thông tin không chính xác và tuyên truyền trên mạng; tuy nhiên, vẫn chưa rõ mức độ ảnh hưởng của những thông tin sai lệch này đến thái độ chính trị của công chúng và do đó chưa rõ có ảnh hưởng đến kết quả chính trị hay không.[15] Các nghiên cứu cho thấy bốn phương pháp chính để gieo rắc thông tin bịa đặt trực tuyến[15] gồm kiểm duyệt có chọn lọc (thủ thuật hái quả anh đàobong bóng lọc), thao túng xếp hạng tìm kiếm, Hack và phát tán thông tin bịa đặt, chia sẻ trực tiếp thông tin bịa đặt để lan truyền với tốc độ chóng mặt. Thông tin bịa đặt được khuếch đại trực tuyến do hành vi sai trái liên quan đến quảng cáo trực tuyến, đặc biệt là các tương tác máy tới máy của các hệ thống đấu thầu thời gian thực.[16] Các công nghệ quảng cáo trực tuyến đã được sử dụng để khuếch đại thông tin bịa đặt do các khuyến khích tài chính và kiếm tiền từ nội dung do người dùng tạotin giả.[17] Sự giám sát lỏng lẻo đối với thị trường quảng cáo trực tuyến có thể được sử dụng để khuếch đại thông tin bịa đặt, bao gồm cả việc sử dụng tiền đen được sử dụng cho quảng cáo chính trị.[18] Thông tin bịa đặt thường được gán cho sự thao túng và can thiệp thông tin nước ngoài (FIMI).[19][20] Trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh, tờ Reuters lưu ý một cựu sĩ quan tình báo Mỹ nói rằng CIA sẽ cố gắng giành được lòng tin của các phóng viên và sử dụng họ như những đặc vụ, để tác động đến chính trị của một quốc gia thông qua phương tiện truyền thông địa phương của họ.[21] Facebook là công ty truyền thông xã hội lớn nhất, đã bị các nhà báo phân tíchhọc giả chỉ trích thậm tệ vì ngăn chặn nghiên cứu độc lập bên ngoài về thông tin bịa đặt.[22][23][24][25]

Từ nguyên

[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn gốc của từ Disinformation của H. Newman được đăng trên The Journal of Information Warfare năm 2021.[26][27] Từ Disinformation xuất phát từ việc áp dụng tiền tố Latinh dis- vào information tạo nên ý nghĩa "Phản thông tin" hay "đảo ngược hoặc loại bỏ thông tin". Từ hiếm dùng này đã xuất hiện với cách sử dụng này trên báo in ít nhất là từ năm 1887.[28][29][30][31] Một số người coi đó là một cách dịch sao phỏng của từ tiếng NgaDezinformatsiya (дезинформация).[32][2][3] dường như bắt nguồn từ tên của một bộ phận tuyên truyền đen của KGB.[33][2][21][32] Các nhà hoạch định Liên Xô trong những năm 1950 đã định nghĩa thông tin bịa đặt là "sự phổ biến (trên báo chí, trên đài phát thanh, v.v.) các báo cáo sai sự thật nhằm đánh lừa dư luận".[34] Disinformation lần đầu tiên xuất hiện trong các từ điển vào năm 1985, cụ thể là, Webster's New College DictionaryAmerican Heritage Dictionary.[35] Năm 1986, thuật ngữ Disinformation không được định nghĩa trong Webster's New World Thesaurus hay New Encyclopædia Britannica.[32] Sau khi thuật ngữ của Liên Xô được biết đến rộng rãi vào những năm 1980, những người bản ngữ tiếng Anh đã mở rộng thuật ngữ này thành "bất kỳ thông tin liên lạc nào của chính phủ (công khai hoặc bí mật) chứa tài liệu sai lệch và gây hiểu lầm một cách cố ý, thường được kết hợp một cách chọn lọc với thông tin đúng sự thật, nhằm tìm cách đánh lừa và thao túng giới tinh hoa hoặc khán giả đại chúng".[3] Đến năm 1990, việc sử dụng thuật ngữ Disinformation đã hoàn toàn được thiết lập trong tiếng Anh trong từ điển chính trị.[36] Đến năm 2001, thuật ngữ disinformation đã được biết đến đơn giản như một cụm từ lịch sự hơn để nói ai đó đang nói dối.[37] Tác giả Stanley B. Cunningham đã viết trong cuốn sách năm 2002 của ông The Idea of Propaganda rằng disinformation đã được sử dụng rộng rãi như một từ đồng nghĩa với tuyên truyền.[38]

Áp dụng

[sửa | sửa mã nguồn]

Các nghiên cứu về thông tin bịa đặt thường quan tâm đến nội dung của hoạt động trong khi khái niệm rộng hơn về tác nhân thông tin nước ngoài (FIMI) quan tâm nhiều hơn đến "hành vi của một tác nhân" được mô tả thông qua khái niệm học thuyết quân sự về kỹ chiến thuật và diễn tiến (TTP).[19] Thông tin bịa đặt chủ yếu được thực hiện bởi các cơ quan tình báo chính phủ, nhưng cũng đã được sử dụng bởi các tổ chức phi chính phủ và doanh nghiệp.[39] Tổ chức bình phong (Front groups) là một dạng thông tin bịa đặt, vì chúng đánh lừa công chúng về mục tiêu thực sự của chúng và ai là người kiểm soát chúng.[40] Cộng đồng Tình báo Hoa Kỳ đã chiếm dụng việc sử dụng thuật ngữ Disinformation vào những năm 1950 từ tiếng Nga Dezinformatsiya và bắt đầu sử dụng các chiến lược tương tự[41][42] trong Chiến tranh Lạnh và trong xung đột với các quốc gia khác.[21] Tờ The New York Times đã báo cáo vào năm 2000 rằng trong nỗ lực của CIA nhằm thay thế Mohammed Reza Pahlavi vào chức Thủ tướng Iran lúc bấy giờ là Mohammad Mossadegh, CIA đã đăng các câu chuyện hư cấu trên báo địa phương.[21] Reuters đã ghi lại cách mà sau cuộc xâm lược Afghanistan năm 1979 của Liên Xô trong Chiến tranh Xô–Afghanistan, CIA đã đăng các bài báo sai sự thật trên các tờ báo của các quốc gia có đa số người Hồi giáo, tuyên bố không chính xác rằng các đại sứ quán Liên Xô đã tổ chức "lễ kỷ niệm ngày xâm lược".[21]

Thủ thuật bịa đặt thông tin rằng vắc-xin Trung Quốc chứa chất gelatin lợn trong chiến dịch ChinaAngVirus Disinformation

Vào tháng 10 năm 1986, thuật ngữ này đã trở nên phổ biến hơn ở Mỹ khi có tiết lộ rằng hai tháng trước đó, Chính quyền Reagan đã tham gia vào một chiến dịch thông tin bịa đặt chống lại nhà lãnh đạo lúc bấy giờ của Libya, Muammar Gaddafi.[43] Đại diện Nhà Trắng Larry Speakes nói rằng các báo cáo về một cuộc tấn công đã được lên kế hoạch vào Libya như lần đầu tiên được đưa tin bởi The Wall Street Journal vào ngày 25 tháng 8 năm 1986, là "có thẩm quyền", và các tờ báo khác bao gồm The Washington Post sau đó đã viết các bài báo nói rằng điều này là thực tế.[43] Đại diện Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ Bernard Kalb đã từ chức để phản đối chiến dịch thông tin bịa đặt, và nói rằng "niềm tin vào lời nói của nước Mỹ là nhịp đập của nền dân chủ của chúng ta".[43] Nhánh hành pháp của chính quyền Reagan đã theo dõi các chiến dịch thông tin bịa đặt thông qua ba ấn phẩm hàng năm của Bộ Ngoại giao gồm Các Biện pháp Chủ động: Báo cáo về Nội dung và Quy trình của các Chiến dịch Tuyên truyền và Thông tin bịa đặt Chống Mỹ (1986); Báo cáo về các Biện pháp Chủ động và Tuyên truyền, 1986–87 (1987); và Báo cáo về các Biện pháp Chủ động và Tuyên truyền, 1987–88 (1989).[41]

Thông tin bịa đặt có thể bao gồm việc phân phối các tài liệu, bản thảo và ảnh giả mạo, hoặc lan truyền tin đồn nguy hiểm và tình báo bịa đặt. Tuy nhiên, việc sử dụng các chiến thuật này có thể dẫn đến phản tác dụng, gây ra những hậu quả không mong muốn như các vụ kiện phỉ báng hoặc làm tổn hại đến danh tiếng của người đưa tin bịa đặt.[40] Theo một báo cáo của Reuters, Mỹ đã điều hành một chiến dịch tuyên truyền tại Hoa Kỳ để lan truyền thông tin sai lệch về COVID-19 qua các hoạt động bí mật chống vắc xin Trung Quốc với thông tin bịa đặt về vắc xin COVID-19 Sinovac của Trung Quốc, bao gồm việc sử dụng các tài khoản mạng xã hội giả mạo để lan truyền thông tin bịa đặt rằng vắc xin Sinovac có chứa các thành phần có nguồn gốc từ thịt lợn nên nó là haram (cấm kỵ) theo luật Hồi giáo.[44] Reuters cho biết Chiến dịch thông tin bịa đặt ChinaAngVirus được thiết kế để "chống lại cái mà họ coi là ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc tại Philippines" và được thúc đẩy bởi "[nỗi sợ] rằng ngoại giao COVIDtuyên truyền của Trung Quốc có thể kéo các nước Đông Nam Á khác, như CampuchiaMalaysia, lại gần Bắc Kinh hơn".[44] Chiến dịch này cũng được mô tả là "sự trả đũa cho những nỗ lực của Bắc Kinh đổ lỗi cho Washington về đại dịch".[45] Chiến dịch này kéo dài từ năm 2020 đến giữa năm 2021[44] và chủ yếu nhắm vào người dân ở Philippines với việc sử dụng một hashtag mạng xã hội cho "Trung Quốc là virus" bằng tiếng Tagalog.[44] Nhà thầu chính cho quân đội Mỹ trong dự án này là General Dynamics IT đã nhận được 493 triệu USD nhờ làm rất tốt vai trò của mình.[44]

Trên thế giới

[sửa | sửa mã nguồn]

Thông tin bịa đặt được công nhận là một thách thức toàn cầu đáng kể, ảnh hưởng đến các nền dân chủ và các hệ thống chính trị khác bằng cách làm xói mòn lòng tin của công chúng và phân mảnh cơ sở thực tế cho tranh luận công khai.[46][47][48] Nó thường lan truyền nhanh chóng trực tuyến và cũng thường vượt xa thông tin chính xác từ đó góp phần vào sự phân cực chính trị, nghiên cứu thực nghiệm cũng liên kết thông tin bịa đặt với sự xói mòn dân chủ và khả năng phục hồi của chế độ trong bối cảnh độc tài.[49] Giáo hoàng Phanxicô đã lên án thông tin bịa đặt trong một cuộc phỏng vấn năm 2016.[50][51][52] Ông còn nói rằng rằng điều tồi tệ nhất mà các phương tiện truyền thông tin tức có thể làm là lan truyền thông tin bịa đặt và nói rằng hành động đó là một tội lỗi,[53][54] so sánh những người lan truyền thông tin bịa đặt với những cá nhân tham gia vào chứng ái phân (coprophilia).[55][56] Kể từ năm 2023, các thành viên Đảng Cộng hòa của Quốc hội Hoa Kỳ đã tấn công các nhà nghiên cứu nghiên cứu về thông tin bịa đặt là chống lại tự do ngôn luận và là một uyển ngữ cho sự kiểm duyệt của chính phủ.[57][58] Vào ngày 18 tháng 4 năm 2025, trích dẫn một Sắc lệnh Hành pháp được ký bởi Trump,[59][60] Quỹ Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ đã đưa ra một tuyên bố hủy bỏ tài trợ cho nghiên cứu thông tin bịa đặt,[61] trích dẫn rằng nó không phù hợp với các ưu tiên của NSF, "bao gồm nhưng không giới hạn ở những ưu tiên về đa dạng, công bằng và hòa nhập (DEI) và thông tin sai lệch/thông tin bịa đặt."[62]Việt Nam cũng có sự quan ngại về tình hình chống phá trên mặt trận tư tưởng khi các thế lực đưa ra những luận điệu sai trái, thông tin độc hại, đả kích, chia rẽ, bôi nhọ, vu khống, xuyên tạc nội bộ gây ảnh hưởng đến niềm tin, hoang mang dao động, vì nhà nước cho đó là âm mưu, thủ đoạn hết sức thâm độc của các thế lực thù địch trong chiến lược “Diễn biến hòa bình”.[63]

Nghiên cứu

[sửa | sửa mã nguồn]

Nghiên cứu liên quan đến các nghiên cứu về thông tin bịa đặt đang gia tăng như một lĩnh vực tìm hiểu ứng dụng.[64][65] Lời kêu gọi chính thức phân loại thông tin bịa đặt là một mối đe dọa an ninh mạng được đưa ra bởi những người ủng hộ do sự gia tăng của nó trên các trang mạng xã hội.[66] Mặc dù sự phổ biến của các trang web truyền thông xã hội, FacebookTwitter cho thấy hoạt động nhiều nhất về các chiến dịch thông tin bịa đặt đang hoạt động. Các kỹ thuật được báo cáo bao gồm sử dụng bot để khuếch đại ngôn từ kích động thù địch, thu thập dữ liệu bất hợp pháp và trả tiền cho troll để quấy rối và đe dọa các nhà báo.[67] Trong khi nghiên cứu thông tin bịa đặt tập trung chủ yếu vào cách các tác nhân dàn dựng các trò lừa dối trên mạng xã hội, chủ yếu thông qua tin giả, nghiên cứu mới điều tra cách mọi người tiếp nhận những gì bắt đầu như là sự lừa dối và lưu hành chúng như quan điểm cá nhân của họ.[10] Các học giả đã chỉ ra rằng thông tin bịa đặt không chỉ là mối đe dọa nước ngoài vì những kẻ cung cấp thông tin bịa đặt trong nước cũng đang tận dụng các phương tiện truyền thông truyền thống như báo chí, đài phát thanh và phương tiện truyền hình để phổ biến thông tin sai lệch.[68]

Nghiên cứu hiện tại cho thấy các nhà hoạt động chính trị trực tuyến cánh hữu ở Hoa Kỳ có thể có nhiều khả năng sử dụng thông tin bịa đặt như một chiến lược và chiến thuật hơn.[69] Các chính phủ đã phản ứng bằng một loạt các chính sách để giải quyết những lo ngại về các mối đe dọa tiềm tàng mà thông tin bịa đặt gây ra cho nền dân chủ, tuy nhiên, có rất ít sự đồng thuận trong diễn ngôn chính sách tinh hoa hoặc tài liệu học thuật về ý nghĩa của việc thông tin bịa đặt đe dọa nền dân chủ, và cách các chính sách khác nhau có thể giúp chống lại các tác động tiêu cực của nó.[70] Bằng chứng khác đã phát hiện ra rằng các chiến dịch thông tin bịa đặt hiếm khi thành công trong việc thay đổi chính sách đối ngoại của các quốc gia mục tiêu.[71] Nghiên cứu cũng đầy thách thức vì thông tin bịa đặt được cho là khó phát hiện và một số công ty truyền thông xã hội đã không khuyến khích các nỗ lực nghiên cứu bên ngoài.[72] Ví dụ, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng thông tin bịa đặt làm cho "các thuật toán phát hiện hiện có từ các phương tiện tin tức truyền thống không hiệu quả hoặc không áp dụng được...[vì thông tin bịa đặt] được cố ý viết để đánh lừa người đọc...[và] sự tham gia xã hội của người dùng với tin giả tạo ra dữ liệu lớn, không đầy đủ, không có cấu trúc và nhiễu loạn".[72]

Các nhà nghiên cứu đã chỉ trích việc đóng khung thông tin bịa đặt là giới hạn trong các nền tảng công nghệ, tách rời khỏi bối cảnh chính trị rộng lớn hơn của nó và ngụ ý không chính xác rằng bối cảnh truyền thông khác vẫn hoạt động tốt.[73] Các quan điểm thay thế đã được đề xuất gồm yếu tố vượt ra ngoài sự kiểm chứng thông tinnăng lực truyền thông để nghiên cứu một hiện tượng phổ biến như một cái gì đó liên quan nhiều hơn là tiêu thụ tin tức. Yếu tố vượt ra ngoài các giải pháp kỹ thuật bao gồm kiểm chứng thông tin tăng cường AI để hiểu cơ sở hệ thống của thông tin bịa đặt. Yếu tố phát triển một lý thuyết vượt ra ngoài Chủ nghĩa trung tâm Mỹ để phát triển một quan điểm toàn cầu, hiểu chủ nghĩa đế quốc văn hóa và sự phụ thuộc của Thế giới thứ ba vào tin tức phương Tây,[74] và hiểu thông tin bịa đặt ở Nam bán cầu.[75] Yếu tố phát triển nghiên cứu thông tin bịa đặt định hướng thị trường kiểm tra các khuyến khích tài chính và mô hình kinh doanh thúc đẩy những người sáng tạo nội dung và các các nền tảng kỹ thuật số lưu hành thông tin bịa đặt trực tuyến.[8][17] Yếu tố bao gồm một cách tiếp cận đa ngành, liên quan đến lịch sử, kinh tế chính trị, nghiên cứu dân tộc, nghiên cứu nữ quyền, và nghiên cứu khoa học và công nghệ. Yếu tố phát triển sự hiểu biết về Thông tin bịa đặt dựa trên giới (GBD) được định nghĩa là "sự phổ biến thông tin sai lệch hoặc gây hiểu lầm tấn công phụ nữ (đặc biệt là các nhà lãnh đạo chính trị, nhà báo và nhân vật công chúng), dựa trên danh tính là phụ nữ của họ".[76][77]

Chú thích

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ Trump pushes false claim that Haitian migrants are stealing and eating pets (ABC News)
  2. ^ a b c Bittman, Ladislav (1985), KGB và Thông tin bịa đặt của Liên Xô: Góc nhìn của Người trong cuộc, Pergamon-Brassey's, tr. 49–50, ISBN 978-0-08-031572-0
  3. ^ a b c Shultz, Richard H.; Godson, Roy (1984), Dezinformatsia: Các biện pháp Chủ động trong Chiến lược Liên Xô, Pergamon-Brassey's, tr. 37–38, ISBN 978-0-08-031573-7
  4. ^ Nations, United. "Chống lại Thông tin bịa đặt". United Nations (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2025.
  5. ^ "Thông tin bịa đặt là gì?". Die Bundesregierung informiert | Startseite (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2025.
  6. ^ Antje (ngày 16 tháng 7 năm 2024). "Thông tin bịa đặt và 7 Dạng Rối loạn Thông tin Phổ biến". The Commons (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2025.
  7. ^ European Commission (ngày 16 tháng 6 năm 2022). "Bộ Quy tắc Thực hành Tăng cường về Thông tin bịa đặt 2022". digital-strategy.ec.europa.eu (bằng tiếng Anh). tr. 1. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2024.
  8. ^ a b Diaz Ruiz, Carlos (2025). "Thông tin bịa đặt trên các nền tảng truyền thông kỹ thuật số: Một cách tiếp cận định hình thị trường". New Media & Society. 27 (4): 2188–2211. doi:10.1177/14614448231207644. S2CID 264816011. Bài viết này tích hợp văn bản đã phát hành theo giấy phép CC BY 4.0.
  9. ^ Diaz Ruiz, Carlos (ngày 14 tháng 3 năm 2025). Nghiên cứu Thông tin bịa đặt Định hướng Thị trường: Quảng cáo Kỹ thuật số, Thông tin bịa đặt và Tin giả trên Mạng xã hội (bằng tiếng Anh) (ấn bản thứ 1). London: Routledge. tr. 29. doi:10.4324/9781003506676-2. ISBN 978-1-003-50667-6.
  10. ^ a b Diaz Ruiz, Carlos; Nilsson, Tomas (ngày 16 tháng 5 năm 2022). "Thông tin bịa đặt và Phòng phản bái: Cách Thông tin bịa đặt Lưu hành trên Mạng xã hội Thông qua các Tranh cãi do Danh tính Thúc đẩy". Journal of Public Policy & Marketing. 42: 18–35. doi:10.1177/07439156221103852. S2CID 248934562.
  11. ^ Ireton, C; Posetti, J (2018). Báo chí, tin giả & thông tin bịa đặt: sổ tay đào tạo và giáo dục báo chí. UNESCO. ISBN 978-92-3-100281-6. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2021.
  12. ^ Golbeck, Jennifer, biên tập (2008), Tính toán với Niềm tin Xã hội, Human-Computer Interaction Series, Springer, tr. 19–20, ISBN 978-1-84800-355-2
  13. ^ Freelon, Deen; Wells, Chris (ngày 3 tháng 3 năm 2020). "Thông tin bịa đặt như là Truyền thông Chính trị". Political Communication (bằng tiếng Anh). 37 (2): 145–156. doi:10.1080/10584609.2020.1723755. ISSN 1058-4609. S2CID 212897113. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2023.
  14. ^ Tandoc, Edson C; Lim, Darren; Ling, Rich (ngày 7 tháng 8 năm 2019). "Sự lan truyền của thông tin bịa đặt: Cách người dùng mạng xã hội phản ứng với tin giả và tại sao". Journalism (bằng tiếng Anh). 21 (3): 381–398. doi:10.1177/1464884919868325. ISSN 1464-8849. S2CID 202281476.
  15. ^ a b Tucker, Joshua; Guess, Andrew; Barbera, Pablo; Vaccari, Cristian; Siegel, Alexandra; Sanovich, Sergey; Stukal, Denis; Nyhan, Brendan (2018). "Social Media, Political Polarization, and Political Disinformation: A Review of the Scientific Literature". SSRN Working Paper Series. doi:10.2139/ssrn.3144139. ISSN 1556-5068. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2019.
  16. ^ Braun, Joshua A.; Eklund, Jessica L. (ngày 2 tháng 1 năm 2019). "Tin Giả, Tiền Thật: Nền tảng Công nghệ Quảng cáo, Trò lừa bịp Định hướng Lợi nhuận, và Kinh doanh Báo chí". Digital Journalism (bằng tiếng Anh). 7 (1): 1–21. doi:10.1080/21670811.2018.1556314. ISSN 2167-0811.
  17. ^ a b Diaz Ruiz, Carlos A. (ngày 30 tháng 10 năm 2024). "Thông tin bịa đặt và tin giả như là ngoại tác của quảng cáo kỹ thuật số: một bài đọc kỹ về các tưởng tượng kỹ thuật xã hội trong quảng cáo lập trình". Journal of Marketing Management (bằng tiếng Anh): 1–23. doi:10.1080/0267257X.2024.2421860. ISSN 0267-257X.
  18. ^ Nadler, Anthony; Donovan, Joan; Crane, Matthew (ngày 17 tháng 10 năm 2018). "Vũ khí hóa Cỗ máy Ảnh hưởng Kỹ thuật số". Data & Society (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2024.
  19. ^ a b Newman, Hadley (2022). Các tiêu chuẩn phòng thủ chống thao túng và can thiệp thông tin nước ngoài: Thử nghiệm áp dụng nhanh ngôn ngữ chung và khuôn khổ 'DISARM' (PDF). NATO Strategic Communications Centre of Excellence. Latvia. tr. 60. ISBN 978-952-7472-46-0. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2022 – qua European Centre of Excellence for Countering Hybrid Threats.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: địa điểm thiếu nhà xuất bản (liên kết)
  20. ^ European Extrernal Action Service (EEAS) (ngày 27 tháng 10 năm 2021). "Giải quyết Thông tin bịa đặt, Thao túng & Can thiệp Thông tin Nước ngoài".
  21. ^ a b c d e Taylor, Adam (ngày 26 tháng 11 năm 2016), "Trước 'tin giả', đã có 'thông tin bịa đặt' của Liên Xô", The Washington Post, lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 5 năm 2019, truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2016
  22. ^ Edelson, Laura; McCoy, Damon. "Facebook Cản trở Nghiên cứu Thông tin sai lệch Như thế nào". Scientific American (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2022.
  23. ^ Edelson, Laura; McCoy, Damon (ngày 14 tháng 8 năm 2021). "Facebook đóng cửa nghiên cứu của chúng tôi về vai trò của nó trong việc lan truyền thông tin bịa đặt". The Guardian (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2022.
  24. ^ Krishnan, Nandita; Gu, Jiayan; Tromble, Rebekah; Abroms, Lorien C. (ngày 15 tháng 12 năm 2021). "Ghi chú nghiên cứu: Kiểm tra cách các nền tảng mạng xã hội khác nhau đã phản ứng với thông tin sai lệch về COVID-19". Harvard Kennedy School Misinformation Review (bằng tiếng Anh). doi:10.37016/mr-2020-85. S2CID 245256590. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2022.
  25. ^ "Chỉ có Facebook biết mức độ của vấn đề thông tin sai lệch của nó. Và nó không chia sẻ, ngay cả với Nhà Trắng". Washington Post (bằng tiếng Anh). ISSN 0190-8286. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2022.
  26. ^ Newman, Hadley (2022). "Chiến tranh thông tin: Tận dụng Khối Ma trận DMMI để Đánh giá Rủi ro". Journal of Information Warfare. 21 (3): 84–102. ISSN 1445-3312. JSTOR 27199985.
  27. ^ Hadley, Newman (2022). "Tác giả". Journal of Information Warfare. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2022. Cố vấn truyền thông chiến lược làm việc trên nhiều lĩnh vực chính sách cho các tổ chức công và đa phương. Chuyên gia chống thông tin bịa đặt và tác giả đã xuất bản về thao túng thông tin và can thiệp nước ngoài (FIMI).
  28. ^ "City & County Cullings (Sử dụng sớm từ "disinformation" năm 1887)". Medicine Lodge Cresset. ngày 17 tháng 2 năm 1887. tr. 3. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2021.
  29. ^ "Giáo sư Young nói về Sao Hỏa và thông tin bịa đặt (1892)". The Salt Lake Herald. ngày 18 tháng 8 năm 1892. tr. 4. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2021.
  30. ^ "Hoàn toàn vô nghĩa (sử dụng sớm từ disinformation) (1907)". The San Bernardino County Sun. ngày 26 tháng 9 năm 1907. tr. 8. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2021.
  31. ^ "Hỗ trợ Chữ thập đỏ giúp các chàng trai Mỹ ở nước ngoài, Câu lạc bộ Rotary được thông báo (1917)". The Sheboygan Press. ngày 18 tháng 12 năm 1917. tr. 4. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2021.
  32. ^ a b c Ion Mihai PacepaRonald J. Rychlak (2013), Thông tin bịa đặt: Cựu Giám đốc Tình báo Tiết lộ Chiến lược Bí mật nhằm Phá hoại Tự do, Tấn công Tôn giáo và Thúc đẩy Khủng bố, WND Books, tr. 4–6, 34–39, 75, ISBN 978-1-936488-60-5
  33. ^ Garth Jowett; Victoria O'Donnell (2005), "Tuyên truyền là gì, và Nó khác Thuyết phục như thế nào?", Tuyên truyền và Thuyết phục, Sage Publications, tr. 21–23, ISBN 978-1-4129-0898-6, Trên thực tế, từ disinformation cùng nguồn gốc với từ tiếng Nga dezinformatsia, lấy từ tên của một bộ phận thuộc KGB chuyên về tuyên truyền đen.
  34. ^ Jackson, Dean (2018), Phân biệt Thông tin bịa đặt với Tuyên truyền, Thông tin sai lệch và 'Tin giả' (PDF), National Endowment for Democracy, lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 7 tháng 4 năm 2022, truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2022
  35. ^ Bittman, Ladislav (1988), Những Người tạo ra Hình ảnh Mới: Tuyên truyền & Thông tin bịa đặt của Liên Xô Ngày nay, Brassey's Inc, tr. 7, 24, ISBN 978-0-08-034939-8
  36. ^ Martin, David (1990), Mạng lưới Thông tin bịa đặt: Sai lầm Nam Tư của Churchill, Harcourt Brace Jovanovich, tr. xx, ISBN 978-0-15-180704-8
  37. ^ Barton, Geoff (2001), Phát triển Kỹ năng Truyền thông, Heinemann, tr. 124, ISBN 978-0-435-10960-8
  38. ^ Cunningham, Stanley B. (2002), "Thông tin bịa đặt (Tiếng Nga: dezinformatsiya)", Ý tưởng Tuyên truyền: Một sự Tái thiết, Praeger, tr. 67–68, 110, ISBN 978-0-275-97445-9
  39. ^ Goldman, Jan (2006), "Thông tin bịa đặt", Từ ngữ Tình báo: Một Từ điển, Scarecrow Press, tr. 43, ISBN 978-0-8108-5641-7
  40. ^ a b Samier, Eugene A. (2014), Bí mật và Kỹ năng nghiệp vụ trong Quản lý Giáo dục: Mặt Khuất của Đời sống Giáo dục, Routledge Research in Education, Routledge, tr. 176, ISBN 978-0-415-81681-6
  41. ^ a b Martin J. Manning; Herbert Romerstein (2004), "Thông tin bịa đặt", Từ điển Lịch sử về Tuyên truyền của Mỹ, Greenwood, tr. 82–83, ISBN 978-0-313-29605-5
  42. ^ Murray-Smith, Stephen (1989), Từ Đúng, Viking, tr. 118, ISBN 978-0-670-82825-8
  43. ^ a b c Biagi, Shirley (2014), "Thông tin bịa đặt", Truyền thông/Tác động: Giới thiệu về Truyền thông Đại chúng, Cengage Learning, tr. 328, ISBN 978-1-133-31138-6
  44. ^ a b c d e Bing, Chris; Schechtman, Joel (ngày 14 tháng 6 năm 2024). "Lầu Năm Góc Điều hành Chiến dịch Bí mật Chống Vắc-xin để Làm suy yếu Trung Quốc trong Đại dịch". Reuters.
  45. ^ Toropin, Konstantin (ngày 14 tháng 6 năm 2024). "Lầu Năm Góc Giữ vững Chiến dịch Thông tin bịa đặt Chống Tiêm chủng Bí mật tại Philippines Sau Báo cáo của Reuters". Military.com (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2024.
  46. ^ "Thông tin bịa đặt và thông tin sai lệch". OECD (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2025.
  47. ^ "Thông tin bịa đặt Công nghiệp hóa 2020 Kiểm kê Toàn cầu về Thao túng Mạng xã hội có Tổ chức" (PDF). Đại học Oxford.
  48. ^ Colomina, Carme (ngày 22 tháng 4 năm 2021). "Tác động của thông tin bịa đặt đối với các quy trình dân chủ và nhân quyền trên thế giới" (PDF). European Parliament Policy Department for External Relations - Directorate General for External Policies of the Union.
  49. ^ Vosoughi, Soroush; Roy, Deb; Aral, Sinan (2018). "The spread of true and false news online". Science. doi:10.1126/science.aap9559.
  50. ^ "Giáo hoàng Cảnh báo Về Tin Giả-Từ Kinh nghiệm", The New York Times, Associated Press, ngày 7 tháng 12 năm 2016, lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 12 năm 2016, truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2016
  51. ^ Alyssa Newcomb (ngày 15 tháng 11 năm 2016), "Facebook, Google Trấn áp Quảng cáo Tin Giả", NBC News, NBC News, lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 4 năm 2019, truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2016
  52. ^ Schaede, Sydney (ngày 24 tháng 10 năm 2016), "Giáo hoàng có Ủng hộ Trump không?", FactCheck.org, lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 4 năm 2019, truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2016
  53. ^ Pullella, Philip (ngày 7 tháng 12 năm 2016), "Giáo hoàng cảnh báo truyền thông về 'tội lỗi' lan truyền tin giả, bôi nhọ các chính trị gia", Reuters, lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 11 năm 2020, truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2016
  54. ^ "Giáo hoàng Phanxicô so sánh việc tiêu thụ tin giả với việc ăn phân", The Guardian, ngày 7 tháng 12 năm 2016, lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 3 năm 2021, truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2016
  55. ^ Zauzmer, Julie (ngày 7 tháng 12 năm 2016), "Giáo hoàng Phanxicô so sánh các phương tiện truyền thông lan truyền tin giả với những người bị kích thích bởi phân", The Washington Post, lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 2 năm 2021, truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2016
  56. ^ Griffin, Andrew (ngày 7 tháng 12 năm 2016), "Giáo hoàng Phanxicô: Tin giả giống như bị kích thích tình dục bởi phân", The Independent, lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 1 năm 2021, truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2016
  57. ^ Myers, Steven Lee; Frenkel, Sheera (ngày 19 tháng 6 năm 2023). "G.O.P. Nhắm mục tiêu vào các Nhà nghiên cứu Nghiên cứu Thông tin bịa đặt Trước Cuộc bầu cử 2024". The New York Times (bằng tiếng Anh). ISSN 0362-4331. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2025.
  58. ^ Jankowicz, Nina. "Đảng Cộng hòa bị Ám ảnh bởi một Lời nói dối về Kiểm duyệt". www.thebulwark.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2025.
  59. ^ Scire, Sarah. "Quỹ Khoa học Quốc gia hủy bỏ các khoản tài trợ nghiên cứu liên quan đến thông tin sai lệch và thông tin bịa đặt". www.niemanlab.org.
  60. ^ "Một lệnh của Nhà Trắng tuyên bố chấm dứt 'kiểm duyệt.' Điều đó có nghĩa là gì?". NPR (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2025.
  61. ^ "Cập nhật về các Ưu tiên của NSF | NSF - Quỹ Khoa học Quốc gia". www.nsf.gov (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2025.
  62. ^ Carnell, Henry. "Chính phủ hủy bỏ các khoản tài trợ thông tin bịa đặt trong tuyên bố đầy rẫy thông tin bịa đặt". Mother Jones (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2025.
  63. ^ Cảnh giác với thông tin xuyên tạc, bịa đặt trên mạng xã hội (Báo Quân Đội Nhân Dân)
  64. ^ Spies, Samuel (ngày 14 tháng 8 năm 2019). "Định nghĩa "Thông tin bịa đặt", V1.0". MediaWell, Social Science Research Council (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2019.
  65. ^ Tandoc, Edson C. (2019). "Sự thật về tin giả: Một bài đánh giá nghiên cứu". Sociology Compass (bằng tiếng Anh). 13 (9) e12724. doi:10.1111/soc4.12724. ISSN 1751-9020. S2CID 201392983.
  66. ^ Caramancion, Kevin Matthe (2020). "Một Khám phá về Thông tin bịa đặt như một Mối đe dọa An ninh mạng". Hội nghị Quốc tế lần thứ 3 về Công nghệ Thông tin và Máy tính (ICICT) năm 2020. tr. 440–444. doi:10.1109/ICICT50521.2020.00076. ISBN 978-1-7281-7283-5. S2CID 218651389.
  67. ^ "Samantha Bradshaw & Philip N. Howard. (2019) Rối loạn Thông tin bịa đặt Toàn cầu: Kiểm kê Toàn cầu năm 2019 về Thao túng Mạng xã hội có Tổ chức. Working Paper 2019.2. Oxford, UK: Dự án về Tuyên truyền Tính toán" (PDF). comprop.oii.ox.ac.uk. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 25 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2022.
  68. ^ Miller, Michael L.; Vaccari, Cristian (tháng 7 năm 2020). "Các Mối đe dọa Kỹ thuật số đối với Dân chủ: Bài học So sánh và Các biện pháp Khắc phục Khả thi". The International Journal of Press/Politics (bằng tiếng Anh). 25 (3): 333–356. doi:10.1177/1940161220922323. ISSN 1940-1612. S2CID 218962159. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2022.
  69. ^ Freelon, Deen; Marwick, Alice; Kreiss, Daniel (ngày 4 tháng 9 năm 2020). "Sự tương đương sai lầm: Hoạt động trực tuyến từ trái sang phải". Science (bằng tiếng Anh). 369 (6508): 1197–1201. Bibcode:2020Sci...369.1197F. doi:10.1126/science.abb2428. PMID 32883863. S2CID 221471947. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2022.
  70. ^ Tenove, Chris (tháng 7 năm 2020). "Bảo vệ Dân chủ khỏi Thông tin bịa đặt: Các mối đe dọa Chuẩn mực và Phản ứng Chính sách". The International Journal of Press/Politics (bằng tiếng Anh). 25 (3): 517–537. doi:10.1177/1940161220918740. ISSN 1940-1612. S2CID 219437151. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2022.
  71. ^ Lanoszka, Alexander (2019). "Thông tin bịa đặt trong chính trị quốc tế". European Journal of International Security. 4 (2): 227–248. doi:10.1017/eis.2019.6. ISSN 2057-5637. S2CID 211312944.
  72. ^ a b Shu, Kai; Sliva, Amy; Wang, Suhang; Tang, Jiliang; Liu, Huan (ngày 1 tháng 9 năm 2017). "Phát hiện Tin giả trên Mạng xã hội: Một Góc nhìn Khai phá Dữ liệu". ACM SIGKDD Explorations Newsletter. 19 (1): 22–36. arXiv:1708.01967. doi:10.1145/3137597.3137600. ISSN 1931-0145. S2CID 207718082.
  73. ^ Kuo, Rachel; Marwick, Alice (ngày 12 tháng 8 năm 2021). "Nghiên cứu thông tin bịa đặt phản biện: Lịch sử, quyền lực và chính trị". Harvard Kennedy School Misinformation Review (bằng tiếng Anh). doi:10.37016/mr-2020-76. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 10 năm 2023.
  74. ^ Tworek, Heidi (ngày 2 tháng 8 năm 2022). "Chúng ta có thể Vượt qua Nghiên cứu Thông tin bịa đặt không?". Centre for International Governance Innovation. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2024.
  75. ^ Wasserman, Herman; Madrid-Morales, Dani, biên tập (ngày 12 tháng 4 năm 2022). Thông tin bịa đặt ở Nam bán cầu (bằng tiếng Anh) (ấn bản thứ 1). Wiley. doi:10.1002/9781119714491. ISBN 978-1-119-71444-6. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 3 năm 2024. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2024.
  76. ^ Sessa, Maria Giovanna (ngày 4 tháng 12 năm 2020). "Thù ghét phụ nữ và Thông tin sai lệch: Một phân tích về các chiến thuật thông tin bịa đặt dựa trên giới trong đại dịch COVID-19". EU DisinfoLab (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2023. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2024.
  77. ^ Sessa, Maria Giovanna (ngày 26 tháng 1 năm 2022). "Thông tin bịa đặt dựa trên Giới là gì?". Heinrich Böll Foundation (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2024.

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]