Hàn luật

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Thơ Hàn luật)
Bước tới: menu, tìm kiếm

Thơ Hàn luật là một dạng thơ chữ Nôm cải biến từ hai thể "thất ngôn tứ tuyệt" và "thất ngôn bát cú" của thể thức thơ Đường luật [1]. Tương truyền là thể thơ này bắt đầu từ Hàn Thuyên thời nhà Trần[1], (do đó mới có tên Hàn luật). Nhưng ngày nay chỉ còn có thể nhận diện thể thơ này qua các tác phẩm của Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tônghội thơ Tao Đàn, và sau đó là Nguyễn Bỉnh Khiêm[1].

Hàn Thuyên có biệt tài làm được thơ phú bằng quốc âm, tức chữ Nôm (biến đổi về số chữ và niêm luật) để có một thể thơ mà người đời sau gọi là thể thơ "Hàn luật". Theo Dương Quảng Hàm thì Hàn luật chính là Đường luật ứng dụng vào Việt ngữ, và công Hàn Thuyên rất lớn, vì nhờ có ông áp dụng vào thơ phú chữ Nôm, nhiều người bắt chước theo ông, nên nền văn chương chữ Nôm được khởi đầu từ đây. Thơ Hàn luật, theo nhận định của các nhà văn học sử, "chỉ là Đường luật… ứng dụng vào việc làm thơ phú Quốc âm thôi", tức là thơ Nôm (tiếng Việt) theo luật Đường [2]. Từ đó người ta cũng gọi thơ quốc âm (thơ chữ Nôm) là thơ Hàn luật.

Đặc biệt của thơ Hàn luật là có nhiều câu 6 chữ xen kẽ, điều không có trong thơ Đường. Trong một bài tứ tuyệt hay bát cú, thơ Hàn luật nhiều khi dùng xen những câu 6 tiếng, ở những vị trí không cố định. Nhịp thơ Đường thường ngắt theo kiểu 4-3, còn ở đây có cả cách ngắt nhịp 3-4, 3-3, một lối ngắt nhịp phổ biến của thi ca dân gian người Việt. Như trong bài thơ tứ tuyệt của Nguyễn Trãi:

蓮 花

Liên hoa (Hoa sen)

淋 洳 拯 变 /卒 和 清
Lầm nhơ chẳng bén, tốt hòa thanh
君 子 困 堪/ 特 所名
Quân tử khôn kham được thửa danh
闧 媫 香 / 店 月 凈
Gió đưa hương, đêm nguyệt tạnh
貞 乄 晫 / 固 埃 爭
Riêng làm của, có ai tranh.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]