Thường Chiếu (thiền sư)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thiền sư Việt Nam
Tam.jpg

Sơ khai

Thiền phái Tì-ni-đa-lưu-chi

Thiền phái Vô Ngôn Thông

Thiền phái Thảo Đường

Thiền phái Trúc Lâm

Thường Chiếu (常照, ? – 1203), là một thiền sư đời , thuộc thế hệ thứ 12 [1] của thiền phái Vô Ngôn Thông trong lịch sử Phật giáo Việt Nam.

Thân thế và đạo nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Thiền sư là người họ Phạm nhưng không rõ tên, sinh ra ở làng Phù Ninh, nay thuộc huyện Phong Châu, tỉnh Phú Thọ. Khi chưa xuất gia, ông đã từng giữ chức Lệnh đô tào ở cung Quảng Từ dưới triều vua Lý Cao Tông. Sau đó, ông từ quan đi xuất gia theo học với Thiền sư Quảng Nghiêm (1122-1190, thuộc đời thứ 11 thiền phái Vô Ngôn Thông) ở chùa Tịnh Quả.

Khi được tâm truyền của thầy, Thiền sư Thiền Chiếu ở lại thêm vài ba năm để hầu thầy, rồi mới lui về một ngôi chùa cổ ở làng Ông Mạc (Bắc Ninh) để trú trì và dạy môn đồ [2]. Ít lâu sau, Thiền sư Thường Chiếu lại dời sang trú trì tại chùa Lục Tổ ở làng Dịch Bảng (Bắc Ninh), vốn là một tổ đường rất xưa của thiền phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi.

Ở đây, ngoài việc dạy cho số môn đồ ngày càng đông đảo, Thiền sư Thường Chiếu còn bổ túc cho tập sử liệu Phật giáo do Thiền sư Thông Biện để lại, mà sau này sẽ trở thành cuốn Thiền uyển tập anh [3].

Ngày 24 tháng Chín (âm lịch) năm Thiên Gia Bảo Hựu thứ 2 (1203) đời Lý Cao Tông, Thiền sư Thường Chiếu cho hay mình đau, nhóm chúng nói kệ, rồi ngồi kiết già viên tịch [4]. Sau đó, các đệ tử làm lễ hỏa táng thầy, đưa vào tháp để tôn thờ.

Tác phẩm của Thiền sư Thường Chiếu để lại có:

  • Thích đạo khoa giáo
  • Nam tông tự pháp đồ, viết về sự truyền thừa của Phật giáo Việt Nam, nhưng đã thất lạc.

Thiền sư Thường Chiếu có ba người đệ tử nổi bật, đó là: Hiện Quang (là người sẽ khai sơn thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đời Trần), Thần Nghi (là người được thầy trao lại các tập sử liệu Phật giáo), và Thông Thiền (hay Thông Sư. Ông chỉ là cư sĩ, nhưng sau đào tạo được Thiền sư Tức Lự)[5]

Kệ thị tịch[sửa | sửa mã nguồn]

Bài kệ trước khi Thiền sư Tường Chiếu viên tịch như sau:

Phiên âm Hán-Việt:
Đạo bổn vô nhan sắc
Tân tiên nhật nhật khoa
Đại thiên sa giới ngoại
Hà xứ bất vi gia.
Nghĩa là:
Đạo vốn không màu sắc
Ngày ngày lại mới tươi
Ngoài đại thiên sa giới
Đâu chẳng phải nhà ngươi.

Đóng góp cho Phật giáo Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài công xiển dương và truyền dạy giáo lý Phật giáo cho tăng chúng, Thiền sư còn có công thống nhất ba thiền phái lúc bấy giờ.

Theo sử liệu thì vào cuối đời , thiền phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi đã mất dần ảnh hưởng. Vì vậy, người của phái này đã mời Thiền sư Thường Chiếu thuộc phái Vô Ngôn Thông sang làm trú trì chùa Lục Tổ, là một ngôi tổ đường lớn của thiền phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi.

Tuy nhiên, nhờ ở nơi ấy, mà Thiền sư Thường Chiếu đã thu thập được nhiều tài liệu để bổ túc cho tập sử liệu do thiền sư Thông Biện để lại. Và đó cũng là cơ hội để Thiền sư góp công làm cho phái thiền Tỳ-ni-đa-lưu-chi và phái thiền Vô Ngôn Thông hòa nhập làm một.

Theo GS. Nguyễn Lang (tức Thiền sư Thích Nhất Hạnh), Thiền sư Thường Chiếu có thể gọi là người khởi đầu cho sự tổng hợp giữa ba thiền phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường, và cũng là gạch nối giữa Phật giáo đời Phật giáo đời Trần. Nói cách khác, Thiền sư chính là gạch nối giữa nền Phật giáo "ba tông phái" với nền Phật giáo "một tông phái" (đời Trần chỉ còn một tông phái là Trúc Lâm Yên Tử) [6].

Hiện Pháp danh Thường Chiếu của Thiền sư đã được đặt cho một ngôi thiền viện lớn ở tại xã Phước Thái, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Người có công tạo lập ra trung tâm tu học này là Hòa thượng Thích Thanh Từ.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Theo nhà nghiên cứu Trần Văn Giáp, thì thế hệ thứ 12 thuộc thiền phái Vô Ngôn Thông gồm 7 vị, nhưng chỉ biết có một mình Thường Chiếu mà thôi ("Phật giáo Việt Nam từ khởi nguyên đến thế kỷ 13", tr. 146).
  2. ^ Năm Thiền sư Thường Chiếu rời chùa Tịnh Quả có lẽ là năm 1190, tức là năm thầy Quảng Nghiêm viên tịch (theo GS. Nguyễn Lang, tr. 241).
  3. ^ Theo GS. Nguyễn Lang, tr. 242.
  4. ^ sách Thiền uyển tập anh ghi Thiền sư Thường Chiếu bị "đau tim". Còn Thiền sư Việt Nam lại ghi là bị "đau bụng" (tr. 203).
  5. ^ Theo GS. Nguyễn Lang, tr. 240.
  6. ^ Theo Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận (Tập 1, tr. 240). Có tham khảo thêm Lịch sử Phật giáo Việt Nam của Thượng tọa Thích Minh Tuệ (tr. 268).

Sách tham khảo chính[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nguyễn Lang (tức Thiền sư Thích Nhất Hạnh), Việt Nam Phật giáo sử luận (Tập 1). Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1992.
  • Thích Thanh Từ, Thiền sư Việt Nam. Thành hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản, 1992.
  • Thích Minh Tuệ, Lịch sử Phật giáo Việt Nam. Thành hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản, 1993.
  • Trần Văn Giáp, "Phật giáo Việt Nam từ khởi nguyên đến thế kỷ 13" in trong Nhà sử học Trần Văn Giáp. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1996.
  • Khuyết danh, Thiền uyển tập anh (Ngô Đức Thọ và Nguyễn Thúy Nga dịch). Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1990.