Bước tới nội dung

Kính Ý Hoàng thái tử phi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(Đổi hướng từ Thường phi (Chu Tiêu))
Hiếu Khang Hoàng hậu
孝康皇后
Thông tin chung
Mất1378
Phối ngẫuÝ Văn Thái tử Chu Tiêu
Hậu duệMinh Huệ Đế Chu Doãn Văn
Thân phụKhai Bình vương Thường Ngộ Xuân
Thân mẫuKhai Bình vương phu nhân Lam thị

Kính Ý Hoàng Thái tử phi Thường thị (chữ Hán: 敬懿皇太子妃常氏, ? - 1378), còn gọi Hiếu Khang Hoàng hậu (孝康皇后) là Thái tử phi đầu tiên của triều đại nhà Minh, nguyên phối thê tử của Ý Văn Thái tử Chu Tiêu và là đích mẫu của Minh Huệ Đế Chu Doãn Văn.

Tiểu sử

[sửa | sửa mã nguồn]

Kính Ý Hoàng Thái tử phi họ Thường (常), người ở Phúc Kiến, là con gái lớn của Ngạc quốc công sau truy phong Khai Bình vương Thường Ngộ Xuân (常遇春) và chính thất Lam thị (蓝氏). Cha bà là danh tướng đầu thời Minh, anh dũng thiện chiến, trong quân còn gọi là “Thường Thập Vạn”, sau lại được thờ phụng tại Đế vương miếu, vô cùng được trọng vọng. Trong nhà bà có ba anh trai đều do Lam thị sinh ra, huynh trưởng Thường Mậu (常茂) được phong Trịnh quốc công (鄭國公) từng đánh trận với Thừa tướng nhà Nguyên là Nạp Ha Xuất (纳哈出), tuy nhiên do mâu thuẫn với tướng Phùng Mậu (馮勝) nên bị đưa đến Long Châu;[1] nhị huynh Thường Thăng (常升) được phong Khai quốc công (開國公) và tam huynh Thường Sâm (常森). Ngoài ra Thường thị còn có hai người em gái[2] tuy nhiên không được đề cập gì trong sử sách.

Tháng 4 năm Hồng Vũ thứ tư (1371), Chu Nguyên Chương ra chỉ dụ, chọn Thường thị làm Thái tử phi cho Thái tử Chu Tiêu. Chỉ dụ ấy ghi rằng:

  • 昔君天下者必重后嗣,为烝民主.皆选勋德之家.贞良女子以媲之.朕子标年已长.以尔常氏实朕功臣开平忠武王长女相结为亲.今吉日在期.所宜先正其名.特以册宝.命尔为皇太子妃.尚其思尔父勋.敬慎内仪.相以正道.用永于家邦.
  • Xưa nay bậc quân vương cai trị thiên hạ ắt phải coi trọng con nối dõi, làm chủ của muôn dân. Đều tuyển chọn con gái nhà công huân, đức hạnh, trinh lương để xứng đôi. Con của Trẫm là Tiêu (Thái tử Chu Tiêu) tuổi đã lớn. Nay lấy con gái lớn của Thường thị, vốn là công thần của Trẫm, tức Khai Bình Trung Vũ Vương (Thường Ngộ Xuân), để kết làm thông gia. Hôm nay, ngày lành đã định. Việc nên làm trước hết là chính danh phận. Đặc biệt dùng sách bảo (sách phong và ấn tín) này, mệnh cho ngươi làm Hoàng Thái tử phi. Mong ngươi hãy nghĩ đến công huân của cha mình, giữ gìn kính cẩn nghi lễ chốn nội cung, giúp đỡ (Thái tử) theo chính đạo, để được lâu dài cho gia đình và đất nước.

Năm Hồng Vũ thứ bảy (1374), Thái tử phi Thường thị sinh hạ con trai cả tên Chu Hùng Anh (朱雄英), bốn năm sau lại sinh thêm một con trai nữa là Chu Doãn Hoàn (朱允熥).[3] Mười ngày sau khi sinh con trai thứ, Thường thị qua đời một cách không rõ nguyên nhân vào năm Hồng Vũ thứ mười một (1378). Theo "Thăng triều đồng sử thập di ký" do học giả Mao Kì Linh (毛奇龄) biên soạn đầu thời Thanh nói rằng bà "chết vì bệnh tật", nhưng một số nhà nghiên cứu cho rằng cái chết của bà có nguyên nhân là do bệnh hậu sản.

Sau khi biết được cái chết của con dâu, Minh Thái Tổ đã ra lệnh ngừng thiết triều ba ngày. Về thụy hiệu truy phong ban đầu của bà có nhiều điểm nghi vấn: Minh sử ghi rằng bà được truy phong là Kính Ý Hoàng Thái tử phi (敬懿皇太子妃);[4] một số tư liệu khác như "Yểm sơn đường biệt tập", "Quốc các", "Minh thư" lại chép là Ý Kính Hoàng Thái tử phi (懿敬皇太子妃)[3]

Năm Kiến Văn thứ nhất (1399), Chu Doãn Văn truy phong đích mẫu Thường thị là Hiếu Khang Hoàng hậu (孝康皇后). Về sau, Chu Doãn Văn bị Minh Thành Tổ Chu Đệ lật đổ, phong hiệu của Thường thị trở lại thành Thái tử phi như trước. Vào thời Nam Minh, Hoằng Quang đế lại khôi phục ngôi vị Hoàng hậu cho bà.

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ 《明史》(卷一百二十五):“茂以遇春功,封鄭國公,食祿二千石,予世券,驕稚不習事。洪武二十年命從大將軍馮勝征納哈出於金山。勝,茂婦翁也。茂多不奉勝約束,勝數誚責之。茂應之慢,勝益怒,未有以發也。會納哈出請降,詣右副將軍藍玉營,酒次,與玉相失,納哈出取酒澆地,顧其下咄咄語。茂方在坐,麾下趙指揮者,解蒙古語,密告茂:「納哈出將遁矣。」茂因出不意,直前搏之。納哈出大驚,起欲就馬。茂拔刀,砍其臂傷。納哈出所部聞之,有驚潰者。勝故怒茂,增飾其狀,奏茂激變,遂械系至京。茂亦言勝諸不法事。帝收勝總兵印,而安置茂于龍州,二十四年卒。”
  2. ^ 《国朝献徵录》(卷5):“妻定远蓝氏,封开平王夫人。子男三人,曰茂、曰升、曰森,皆上所赐名。女三人,长许为皇太子妃。上所任將帥其最著者三人曰平章邵榮右丞徐達與遇春[……]”
  3. ^ a b 黃迺錕. 懿文太子及建文帝的后妃與子女. 《趙令揚教授上庠講學五十周年紀念論文集》. 香港: 中華書局(香港)有限公司. 2015 [2023-06-23]. ISBN 9789888340613. (原始内容存档于2022-09-20) (繁体中文).
  4. ^ 《明史·卷一百一十五·列傳第三》孝康皇后常氏,開平王遇春女。洪武四年四月冊為皇太子妃。十一年十一月薨,諡敬懿。太祖為輟朝三日。建文元年追尊為孝康皇后。永樂元年復稱敬懿皇太子妃。