Thượng Hội đồng Quốc gia (Việt Nam Cộng hòa)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Thượng Hội đồng Quốc gia là cơ quan chấp chính dân sự do Ủy ban Lãnh đạo Lâm thời lãnh đạo là bộ tam đầu chế gồm ba tướng Dương Văn Minh, Nguyễn KhánhTrần Thiện Khiêm cho thành lập vào ngày 8 tháng 9 năm 1964 để chuyển dần sang Chính phủ dân sự trong thời kỳ Quân quản của Việt Nam Cộng hòa. Tuy nhiên, cơ cấu này bị Hội đồng Quân lực tuyên bố giải tán vào ngày 20 tháng 12 năm 1964 sau một binh biến, chỉ sau hơn 3 tháng hoạt động.

Thành phần & diễn biến[sửa | sửa mã nguồn]

Thượng Hội đồng Quốc gia có 16 thành viên gồm: Nguyễn Xuân Chữ, Tôn Thất Hanh, Nguyễn Văn Huyền, Ngô Gia Hy, Nguyễn Đình Luyện, Nguyễn Văn Lực, Trần Đình Nam, Hồ Văn Nhựt, Trần Văn Quế, Lê Khắc Quyến, Phan Khắc Sửu, Lương Trọng Tường, Hồ Đắc Thắng, Lê Văn Thu, Mai Thọ TruyềnTrần Văn Văn.

Ngày 27 tháng 9, Hội đồng bầu Kỹ sư Phan Khắc Sửu làm Chủ tịch và đến ngày 24 tháng 10 thì ông được đề cử làm Quốc trưởng. Phó chủ tịch Thượng Hội đồng là Nguyễn Xuân Chữ và tổng thư ký là Trần Văn Văn.[1]

Lúc đầu Bác sĩ Hồ Văn Nhựt được tuyển chọn để đảm trách chức Thủ tướng vì ông được sự ủng hộ của mọi thành phần tôn giáo và chính trị. Đây là chức Thủ tướng dân sự đầu tiên kể từ khi nền Đệ Nhất Cộng hòa của Tổng thống Ngô Đình Diệm bị phe Quân đội lật đổ. Tuy nhiên ông muốn tìm kiếm giải pháp hòa hợp dân tộc, và sau những cuộc thảo luận không thỏa đáng với Ủy ban Lãnh đạo Lâm thời và Chính quyền Mỹ, Bác sĩ đã từ chối chức vụ này. Thay vào đó, Trần Văn Hương, Đô trưởng Sài Gòn, được bổ nhiệm làm Thủ tướng.[2][3]

Chính phủ của ông Trần Văn Hương mặc dù được hậu thuẫn của nhiều thành phần nhưng bị bác sĩ Nguyễn Xuân Chữ, các lãnh đạo Phật giáo và lực lượng sinh viên chống đối kịch liệt vì cho rằng thành phần chính phủ không phản ánh đúng nguyện vọng của các đảng phái. Ông Hương lại không chịu nhượng bộ cải tổ nên tình hình trở nên tê liệt. Hội đồng Quân lực quyết đinh bãi nhiệm Thủ tướng Trần Văn Hương và đưa đi quản thúc tại Vũng Tàu rồi đề cử Phó thủ tướng Nguyễn Xuân Oánh làm thủ tướng để thành lập nội các mới. Ông Oánh xin từ nhiệm vì ông không chấp nhận bổ nhiệm trung tướng Nguyễn Chánh Thi vào chức Tổng trưởng Nội vụ. Sau đó Phan Huy Quát được bổ nhiệm là Thủ tướng, trung tướng Nguyễn Văn Thiệu làm Phó thủ tướng kiêm Tổng trưởng Quốc phòng, bác sĩ Trần Văn Đỗ làm Phó thủ tướng kiêm Tổng trưởng Ngoại giao, luật sư Trần Văn Tuyên là Phó thủ tướng phụ trách kế hoạch. Hội đồng Quân lực ra lệnh giải thể Thượng Hội đồng Quốc gia vào ngày 20 tháng 12 năm 1964, một ngày sau khi nội các Phan Huy Quát trình diện Quốc trưởng Phan Khắc Sửu, để thành lập Hội đồng Quốc gia Lập pháp.[4]

Tác động[sửa | sửa mã nguồn]

Thượng Hội đồng Quốc gia là cơ cấu chính quyền dân sự chuyển tiếp, nhằm chuyển dần quyền lực chính quyền Việt Nam Cộng hòa từ các tướng lĩnh quân nhân sau đảo chính 1963 về tay chính quyền dân sự. Thành tựu quan trọng của Thượng Hội đồng là việc soạn xong Ước pháp 20 tháng 10 năm 1964 trao chủ quyền quốc gia lại cho đại diện dân cử đảm nhiệm,[5] thay thế cho Hiến chương lâm thời 4 tháng 11 năm 1963 vốn đặt quyền lực vào tay Quân đội. Tuy nhiên, Ước pháp trở thành vô giá trị sau ngày 19 tháng 12 năm 1964, khi các tướng lĩnh trong Hội đồng Quân lực thực hiện cuộc binh biến, thu hồi quyền lực vào tay các quân nhân.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Hoàng Cơ Thụy. Việt sử khảo luận. Paris: Nam Á, 2002. tr 3304. Cũng theo tài liệu này Thượng Hội đồng có 18 thành viên. Ngoài 16 người kể trên còn có Phạm Huy Cơ và Bùi Anh Tuấn.
  2. ^ “Document 387”. Truy cập 1 tháng 3 năm 2015. 
  3. ^ Institute of Current World Affairs. Article TO27. http://www.icwa.org/txtArticles/TO-27.htm
  4. ^ Sự trỗi dậy của những hoàng đế không ngai, Báo Công an nhân dân điện tử, 12/08/2015
  5. ^ Hoàng Cơ Thụy. tr 3306

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lâm Vĩnh Thế, Bạch hóa Tài liệu mật của Hoa Kỳ về Việt Nam Cộng hòa. Hamilton, ON: Hoài Việt, 2008
  • Lâm Vĩnh Thế, Nhóm tướng trẻ trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa vào giai đoạn 1964 - 1965.