Thư hoàng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Thư hoàng
Orpiment-148270.jpg
Các tinh thể thư hoàng màu vàng kim trong mờ, từ mỏ Twin Creek, Potosi, quận Humboldt, Nevada, Hoa Kỳ (kích thước: 3,3 cm × 2,1 cm × 2,1 cm)
Thông tin chung
Thể loạiKhoáng vật sunphua
Công thức hóa họcAs2S3
Phân loại Strunz2.FA.30
Hệ tinh thểĐơn nghiêng
Lớp tinh thểLăng trụ (2/m)
(cùng kí hiệu H-M)
Nhóm không gianP21/n
Ô đơn vịa = 11,475(5), b = 9,577(4)
c = 4,256(2) [Å], β = 90,45(5)°; Z = 4
Nhận dạng
MàuVàng chanh tới vàng kim hay vàng ánh nâu
Dạng thường tinh thểThông thường ở dạng khối kết tập dạng sợi hay cột phân phiến; có thể có dạng hình thận hay chùm nho; cũng ở dạng hột hay bột; hiếm thấy ở dạng tinh thể lăng trụ
Song tinhTrên {100}
Cát khaiHoàn hảo trên {010}, không hoàn hảo trên {100};
Độ bềnCó thể cắt ra
Độ cứng Mohs1,5 - 2,0
ÁnhNhựa, ngọc trai trên bề mặt cát khai
Màu vết vạchVàng chanh nhạt
Tính trong mờTrong suốt
Tỷ trọng riêng3,49
Thuộc tính quangLưỡng trục (−)
Chiết suấtnα = 2,400 nβ = 2,810 nγ = 3,020
Khúc xạ képδ = 0,620
Đa sắcTrong ánh sáng phản xạ, mạnh, trắng tới xám nhạt với sắc ánh đỏ; trong ánh sáng truyền qua, Y = vàng, Z = vàng ánh lục
Góc 2VĐo đạc: 30° tới 76°. Tính toán: 62°.
Tán sắcr > v, mạnh.
Tham chiếu[1][2][3]

Thư hoàng là một khoáng vật sunphua màu vàng cam sẫm của asen với công thức As2S3. Nó được tìm thấy trong các lỗ phun khí núi lửa, các mạch nhiệt dịch nhiệt độ thấp và các suối nước nóng; được hình thành nhờ thăng hoa cũng như là phụ phẩm của quá trình phân rã của một khoáng vật sunphua asen khác là hùng hoàng. Do là các khoáng vật cộng sinh mà người ta gọi hùng hoàng và thư hoàng là "uyên ương khoáng vật".

Tên gọi của nó trong một số ngôn ngữ khác như tiếng Anh/tiếng Pháp (orpiment), tiếng Tây Ban Nha (oropimente), tiếng Bồ Đào Nha (auripigmento), tiếng Đức (auripigment), tiếng Nga (аурипигмент) có nguồn gốc từ tiếng Latinh auripigmentum (aurumvàng + pigmentumthuốc nhuộm) do màu vàng sẫm của nó.

Sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Vết vạch màu vàng kim tươi màu của thư hoàng.

Tên gọi trong tiếng Trung của nó là 雌黃 (cihuang), nghĩa đen là 'chất màu vàng cái', đối lại với hùng hoàng là 'chất màu vàng đực'. Thư hoàng từng được sử dụng trong y học cổ truyền Trung Hoa mặc dù nó rất độc. Thần Nông bản thảo kinh coi nó là "trung phẩm", với tác dụng sát trùng, giải độc, tiêu thũng.

Nó cũng từng được sử dụng như một loại đá mài để sửa đổi chữ viết trong các văn bản,[4] vì thế trong ngữ cảnh Trung Hoa thì thư hoàng còn có nghĩa bóng là sửa đổi văn chương tùy tiện, với thành ngữ "tín khẩu thư hoàng" (信口雌黃) nghĩa là bất chấp sự thật, bình luận sằng bậy hay tùy khẩu loạn ngôn. Trong chương Miễn học của Nhan thị gia huấn, Nhan Chi Suy (531-591) viết: "觀天下書未遍,不得妄下雌黄 (giản thể: 观天下书未遍,不得妄下雌黄)" (Quan thiên hạ thư vị biến, bất đắc vọng hạ thư hoàng),[5] nghĩa là một khi chưa đọc hết sách của thiên hạ thì chẳng được tùy tiện sửa đổi văn chương của người khác.

Thư hoàng cũng từng được buôn bán trong đế quốc La Mã. Do màu sắc nổi bật, nó từng là đối tượng thu hút sự quan tâm của các nhà giả kim thuật ở cả Trung Quốc và phương Tây trong việc tìm kiếm cách thức điều chế vàng.

Trong nhiều thế kỷ, thư hoàng được nghiền vụn và sử dụng làm chất màu trong hội họa và trong xi gắn. Màu vàng trong các bức bích họa tại hang Mạc Cao có chứa thư hoàng. Nó là một trong số ít các thuốc nhuộm màu vàng tươi trong suốt sẵn có đối với các nghệ sĩ cho tới tận thế kỷ 19. Tuy nhiên, do độc tính rất cao và sự không tương thích với nhiều loại thuốc màu phổ biến khác, bao gồm các chất gốc chìđồng như xanh đồng (verdigris) và azurit,[6] nên việc sử dụng nó làm thuốc nhuộm đã kết thúc khi các thuốc nhuộm như vàng cadmi, vàng cromthuốc nhuộm gốc hữu cơ được giới thiệu trong thế kỷ 19.

Thư hoàng, được biết đến với tên gọi Latinh auripigmentum, được Robert Hooke (1635-1703) đề cập tới trong Micrographia để sản xuất các viên đạn ghém nhỏ trong thế kỷ 17.[7]

Đương đại[sửa | sửa mã nguồn]

Thư hoàng được sử dụng trong sản xuất thủy tinh truyền hồng ngoại, vải dầu, vải sơn lót sàn, các chất bán dẫn, quang dẫn, thuốc nhuộm và pháo hoa. Trộn cùng hai phần vôi tôi, thư hoàng vẫn còn đưọc sử dụng rộng rãi tại vùng nông thôn Ấn Độ như là một loại thuốc làm rụng lông. Nó cũng được sử dụng trong công nghiệp thuộc da để loại bỏ lông từ các con da sống.

Thuộc tính vật lý và quang học[sửa | sửa mã nguồn]

Thư hoàng là khoáng vật sunphua asen đơn nghiêng phổ biến. Nó có độ cứng Mohs khoảng 1,5 đến 2,0 và có tỷ trọng riêng khoảng 3,49. Nó nóng chảy ở nhiệt độ 300 °C đến 325 °C. Về mặt quang học nó là lưỡng trục (−) với chiết suất a = 2,4, b = 2,81, g = 3,02.

Cấu trúc tinh thể[sửa | sửa mã nguồn]

Thư viện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Handbook of Mineralogy
  2. ^ Mindat.org
  3. ^ Webmineral data
  4. ^ Thẩm Quát (沈括) - Mộng khê bút đàm (梦溪笔谈). Quyển 1. Truyện 1.
  5. ^ Nhan Chi Suy. 顏氏家訓/卷第3 - 勉学 (Nhan thị gia huấn/Quyển 3 - Miễn học
  6. ^ Fitzhugh E. W., Orpiment and Realgar. Trong Artists’ Pigments, A Handbook of Their History and Characteristics. Vol 3: E. W. Fitzhugh (chủ biên) Oxford University Press 1997, tr. 52. ISBN 9781904982760
  7. ^ Hooke, Robert. “Micrographia”. Project Gutenberg. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2012. 
  • The Merck Index: An Encyclopedia of Chemicals, Drugs, and Biologicals. Ấn bản lần thứ 11. Ed. Susan Budavari. Merck & Co., Inc., N.J., U.S.A. 1989.
  • William Mesny. Mesny’s Chinese Miscellany. A Text Book of Notes on China and the Chinese. Thượng Hải. Quyển III (1899): tr. 251; Quyển IV (1905): tr. 26.
  • Fitzhugh E. W., Orpiment and Realgar. Trong Artists’ Pigments, A Handbook of Their History and Characteristics. Vol 3: E. W. Fitzhugh (chủ biên) Oxford University Press 1997, tr. 47 – 80.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]