Thảo luận:Iptv

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Untitled[sửa mã nguồn]

IPTV

IPTV (Internet Protocol Television) là một hệ thống ở đó một dịch vụ truyền hình số được phát bằng giao thức Internet Protocol qua một hạ tầng mạng, nó bao gồm cả việc phân phối một kết nối băng rộng. Một định nghĩa tổng quát của IPTV là nội dung truyền hình thay vì được phát đến người xem qua định dạng cáp đồng hoặc phát thanh truyền thống thì được thay thế bằng kỹ thuật mạng máy tính.

Đối với người dùng là các hộ gia đình, IPTV thường cung cấp một sự kết hợp giữa VoD (Video on Demand) và gói các dịch vụ Internet như truy cập Web và VoIP. Một gói dịch vụ thương mại gồm IPTV, VoIP và truy cập Internet được gọi là dịch vụ "Triple Play" (thêm tính di động nữa thì được gọi là "Quadruple Play"). IPTV là một dịch vụ tiêu biểu được cung cấp bởi một hạ tầng mạng khép kín. Mạng này tiến tới sẽ cạnh tranh với dịch vụ truyền hình qua mạng Internet công cộng mà người ta gọi là Internet Television. Trong kinh doanh, IPTV có lẽ sẽ được phân phối thông qua tập hợp các mạng LAN.

Lịch sử[sửa mã nguồn]

Vào năm 1994, ABC's World News Now lần đầu tiên truyền đi rộng rãi show truyền hình qua Internet sử dụng phần mềm CU-SeeMe videoconferencing.

Thuật ngữ IPTV lần đầu tiên xuất hiện vào năm 1995 với phần mềm Precept Software do Judith Estrin và Bill Carrico sáng lập. Quy tắc thiết kế và xây dựng một sản phẩm video Internet gọi là "IP/TV". IP/TV là một MBONE tương thích với Windows và Unix dựa trên ứng dụng chuyển lưu lượng audio/video đơn và đa nguồn, sắp xếp chất lượng từ thấp đến DVD, sử dụng cả hai giao thức unicast và IP multicast RTP/RTCP. Phần mềm đầu tiên được viết bởi Steve Casner, Karl Auerbach, và Cha Chee Kuan. Quy tắc do Cisco lập vào năm 1998 được đăng ký nhãn hiệu "IP/TV".

Công ty truyền thanh Internet là AudioNet lần đầu tiên phát liên tục trên WFAA-TV vào tháng giêng năm 1998, trên KCTU-LP vào ngày 10/01/1998.

Kingston Communications, một công ty truyền thông địa phương hoạt động ở UK, phát hành KIT (Kingston Interactive Television), một IPTV qua dịch vụ truyền hình tương tác băng rộng DSL trong tháng 9/1999 sau khi chỉ đạo rất nhiều thử nghiệm TV và VoD khác nhau. Nhà khai thác đã đưa thêm dịch vụ VoD vào Yes TV, một nhà cung cấp nội dung VoD từ tháng 10/2001. Kingston là một trong những công ty đầu tiên trên thế giới cung cấp IPTV và IP VoD qua ADSL.

Trong quá khứ, kỹ thuật này bị hạn chế bởi số lượng thâm nhập băng thông rộng thấp. Tuy nhiên trong những năm đến, thuê bao IPTV được mong đợi phát triển với tốc độ nhanh chóng khi băng thông rộng đã sẵn sàn cho hơn 200 triệu hộ gia đình trong năm 2005, hướng đến 400 triệu thuê bao vào năm 2010. Nhiều nhà cung cáp viễn thông lớn trên thế giới đang thăm dò xem IPTV như là một cơ hội sinh lợi mới từ thị trường hiện tại của họ và xem như là công cụ tự vệ chống lại sự xâm lấn từ nhiều dịch vụ truyền hình cáp thông thường. Có hàng ngàn IPTV lắp đặt trong nhà trường, công ty, công sở không đòi hỏi sử dụng kết nối liên tỉnh.

Điều quan trọng cần chú ý là có nhiều định nghĩa IPTV khác nhau bao gồm các dòng số cơ bản qua mạng IP, vận chuyển các dòng qua các mạng IP và một số hệ thống sở hữu. Mặc dù người ta sớm nói rằng có một sự nhất trí cao về định nghĩa IPTV, không nghi ngờ những gì đã được định nghĩa hầu như rộng rãi cho chuỗi chương trình đơn giản hoặc phức tạp được sở hữu hoặc điều hành trực tiếp đến quy tắc của khách hàng. Sự điều hành phân phối này bảo đảm chất lượng của dịch vụ và cũng cho phép các nhà cung cấp dịch vụ nâng cao kinh nghiệm sử dụng như hướng dẫn chương trình tốt hơn, các dịch vụ tương tác,...

Trái ngược với “Internet TV” xem xét đến các dòng vận chuyển qua các mạng IP (thông thường là Internet) từ mạng bên ngoài từ đó kết nối đến người dùng. Một nhà cung cấp TV Internet sẽ không điều khiển đến sự phân phối cuối và vì vậy phát quảng bá trên cơ bản “cố gắng mức tốt nhất”. Các dòng số cơ bản qua các mạng IP và mạng xã hội như YouTube bây giờ hiếm khi xem xét đến các dịch vụ IPTV.

Kiến trúc IPTV[sửa mã nguồn]

IPTV quảng bá có 2 dạng cấu trúc chính: có tính phí và miễn phí. Vào tháng 6/2006, có 1300 kênh IPTV miễn phí. Lĩnh vực này đang phát triển nhanh chóng và các kênh truyền hình lớn trên thế giới đang truyền phát sóng qua Internet. Những kênh IPTV miễn phí này chỉ yêu cầu có đường truyền Internet và một thiết bị đầu cuối như máy tính cá nhân, HDTV kết nối với một máy vi tính hoặc một máy điện thọai di động 3G xem được IPTV.

Tháng 12/2005, sản phẩm mariposaHD có định dạng HDTV phát trên sóng IPTV nguyên bản đầu tiên. Các cổng giao tiếp Web khác nhau hỗ trợ cho việc truy nhập các kênh IPTV miễn phí này. Một vài kênh quảng cáo trên TV như Lost and Desperate Housewives là dẫn chứng rằng IPTV trở nên phổ biến.

Do IPTV sử dụng giao thức mạng chuẩn nên hứa hẹn giá trị khai thác thấp hơn cũng như cước sử dụng thấp hơn. Sử dụng set-top boxes với kết nối Internet băng rộng, video có thể phát đến các hộ gia đình hiệu quả hơn sử dụng cáp đồng trục hiện đang dùng. Các nhà cung cấp dịch vụ Internet ISP đang nâng cấp mạng của họ để nâng cao tốc độ và cho phép nhiều kênh TV độ nét cao.

Vào năm 2006, AT&T triển khai dịch vụ IPTV U-Verse. Bao gồm một đầu mối quốc gia và nhiều vùng phục vụ chức năng video. AT&T cung cấp hơn 300 kênh trên 11 thành phố kể cả năm 2007 và về sau. Ngoài việc dùng giao thức IP, AT&T còn xây dựng một mạng IP riêng cho đường truyền video

IPTV nội hạt, được dùng trong kinh doanh phân phối Audio Visual AV trên mạng của họ dựa trên sự pha trộn: a) thiết bị thu TV thông thường và bộ giải mã IPTV b) cổng Gateway IPTV phát các kênh MPEG và gói IP để tạo ra multicast

IPTV sử dụng tín hiệu phát quản bá kỹ thuật số 2 chiều để gửi đi thông qua tổng đài điện thoại hoặc mạng cáp có kết nối băng rộng và một chương trình set-top box (giống như cáp hoặc DSS box) mà nó cho phép người xem yêu cầu truy nhập đến nhiều nguồn media.

Hiện nay, bang California có 2 công ty UTStarcom, Inc. và Tennessee được Worley tư vấn là 2 công ty triển khai hạ tầng mạng đầu cuối đến đầu cuối cho các dịch vụ dựa trên IPTV

Các giao thức[sửa mã nguồn]

IPTV bao trùm cả live TV (multicasting) cũng như Video on Demand VoD. Thiết bị đầu cuối của IPTV đòi hỏi có một máy tính cá nhân hoặc một set-top box nối với TV. Nội dung video sử dụng chuẩn mã hoá MPEG-2 hoặc MPEG-4 và chúng gửi một chuỗi MPEG phân phối qua IP Multicast (đối với truyền hình trực tiếp) hoặc qua IP Unicast (đối với VoD). IP Multicast là một phương thức mà thông tin có thể được gửi đến nhiều máy tính trong cùng một thời gian. Chuẩn mã hoá mới MPEG-4 H.264 được thay thế cho mã MPEG-2.

Trong hệ thống chuẩn IPTV, các giao thức chuẩn dưới đây được sử dụng:

Live TV đang dùng IGMP version 2 cho việc kết nối đến chuỗi multicast (TV channel) và cho việc thay đổi từ một chuỗi multicast đến chuỗi khác (thay đổi kênh TV)

VOD đang dùng Real Time Streaming Protocol (RTSP).

Hiện nay, IPTV là sự lựa chọn duy nhất thay thế kỹ thuật phân phối TV truyền thống như vệ tinh, cáp, truyền hình mặt đất. Tuy nhiên, cáp có thể được nâng cấp khả năng 2 chiều và cũng có thể truyền IPTV. NPVR (network-based Personal Video Recorder) NPVR là một dịch vụ tiêu dùng mà ở đó truyền hình phát theo thời gian thực chiếm dụng trên mạng một máy chủ cho phép người dùng cuối truy cập đến các chương trình ghi sẵn theo danh mục người dùng chọn, tốt hơn là danh mục có sẵn. Hệ thống NPVR cung cấp time-shifted các chương trình quảng bá, cho phép thuê bao ghi lại và xem các chương trình yêu thích của họ, mà không đòi hỏi thiết bị PVR cá nhân. Nó có thể sánh như là một “PVR được xây dựng cho mạng”, tuy nhiên đó là sự sai lạc không đáng kể trừ khi từ “Personal” thay đổi thành “Public”.

Các thuê bao có thể lựa chọn từ các chương trình có sẵn trong thư viện trên mạng, khi họ muốn, mà không cần thiết bị hoặc điều khiển từ xa nào khác. Tuy nhiên, nhiều người vẫn thích sở hữu thiết bị PVR hơn khi thiết bị này cho họ lựa chọn chính xác những gì họ muốn ghi lại.

Điều này tránh các quy tắc về đăng ký và bản quyền khắc khe cũng như những nhược điểm khác mà các quy tắc này cản trở mạng cung cấp theo yêu cầu đến các chương trình nào đó.

Ở Vương quốc Anh, Virgin Media (thương hiệu truyền hình cáp cung cấp các dịch vụ điện thoại, Internet và di động tế bào) có cung cấp dịch vụ NPVR gọi là "Virgin On Demand". Hiện nay hãng cung cấp việc truy nhập khối lượng các phim tài liệu, phim truyện, kịch bản phim và các video ca nhạc; tuy nhiên điều quan trọng là đưa vào thuê bao các kỹ thuật đáp ứng đặc tính chạy nền playback như "pause", "rewind" và "fast forward" phổ biến trong các đầu đọc VCR và DVD. Có một thư viện các chương trình chọn sẵn có giá trị cho tất cả các khách hàng sử dụng dịch vụ truyền hình cáp không tính thêm phí nhưng các chương trình này có nhiều hạn chế và chương trình tồn tại trong trong vòng bảy ngày.

Ở Hy Lạp, On Telecoms cung cấp một dịch vụ NPVR cho tất cả các thuê bao trong gói cơ bản với tất cả các chương trình của tất cả các kênh TV quốc gia chính trong vòng 72 giờ. Khách hàng nên đánh dấu trong bản hợp đồng của họ rằng họ đồng ý công ty sẽ thu lại chương trình quốc gia trong vòng 72 giờ cho họ để họ có thể làm việc với pháp luật khi dịch vụ này hoạt động giống như một PVR cá nhân.

Tiện ích[sửa mã nguồn]

Nền dựa trên IP cung cấp nhiều đặc tính quan trọng bao gồm khả năng tích hợp truyền hình với các dịch vụ nền IP khác giống như truy cập Internet tốc độ cao và VoIP.

Một mạng chuyển mạch IP cũng cho phép phân phối nhiều nội dung và chức năng quan trọng. Trong một mạng truyền hình điển hình hoặc vệ tinh, sử dụng kỹ thuật video quảng bá, tất cả nội dung liên tục phát đến mỗi khách hàng và khách hàng chuyển nội dung tại set-top box. Khách hàng có nhiều sự chọn lựa từ nhiều công ty viễn thông, cáp hoặc vệ tinh có thể lắp đến tận nhà. Mỗi mạng chuyển mạch IP làm việc khác nhau. Nội dung để trên mạng, chỉ những nội dung khách hàng chọn được gởi đến nhà khách hàng. Điều này giải phóng băng thông và sự lựa chọn của khách hàng ít bị hạn chế hơn bởi kích cỡ đường dây nối đến nhà. Điều này cũng ngụ ý rằng sự riêng tư của khách hàng có thể bị xâm hại với quy mô lớn hơn so với mạng TV hoặc vệ tinh truyền thống. Các mạng này cũng có thể là phương tiện xâm nhập trái phép hoặc ít nhất là phá vỡ một mạng riêng lẻ.

Tính tương tác

Một nền tảng dựa trên IP cũng cho phép các cơ hội có ý nghĩa làm cho trải nghiệm người xem TV thêm tương tác và cá nhân hoá hơn. Ví dụ nhà cung cấp hướng dẫn các chương trình tương tác mà chúng cho phép người xem tìm kiếm nội dung bằng tiêu đề hoặc tên diễn viên hoặc một chức năng picture-in-picture, chức năng này cho phép người xem lướt qua các kênh mà không phải chuyển chương trình đang xem. Người xem cũng có khả năng theo dõi tình trạng của người chơi trong khi đang xem một game thể thao, hoặc điều khiển góc quay của camera. Họ cũng có khả năng truy cập ảnh hoặc ca nhạc từ máy PC của họ trên TV, sử dụng điện thoại vô tuyến để xếp danh mục show yêu thích của họ hoặc cha mẹ kiểm soát con cái xem thông báo nhà trường trong khi họ đi ra khỏi nhà.

Chú ý rằng tất cả điều này là có thể tồn tại trên mạng cáp, truyền hình vệ tinh và truyền hình mặt đất thông qua set top boxes hiện đại.

VoD

VoD viết tắt của Video on Demand. VoD cho phép một khách hàng xem lướt qua catalogue phim hoặc chương trình trực tuyến, xem các trích đoạn và sau đó chọn ghi lại. Phim được chọn bắt đầu ngay lập tức trên TV hoặc PC của khách hàng.

Về kỹ thuật, khi khách hàng chọn phim, một kết nối unicast điểm nối điểm được thiết lập giữa bộ giải mã của khách hàng (SetTopBox hoặc PC) và server phân phối luồng. Tín hiệu cho chức năng hoạt động (pause, chạy chậm, chạy nhanh...) được đảm bảo bằng RTSP (Real Time Streaming Protocol).

Hầu hết các bộ mã hoá thông dụng cho VoD là MPEG-2, MPEG-4 và VC-1

Để tránh ăn cắp bản quyền, nội dung VoD thường được mã hoá. Trong khi cáp TV hoặc vệ tinh được mã hoá theo cách thông thường thì với kỹ thuật IPTV được mã hoá hiệu quả hơn thông qua dạng thức Digital Rights Management. Ví dụ một phim được chọn có trả tiền sẽ xem được trong vòng 24 giờ, sau thời gian này thì nó sẽ bị khoá.

Các dịch vụ hội tụ dựa trên IPTV

Tiện ích khác của một mạng dựa IP là cơ hội cho sự tích hợp và sự hội tụ. Các dịch vụ hội tụ bao hàm cả sự tương tác của các dịch vụ hiện có trong một khối để tạo ra các dịch vụ gia tăng mới. Một ví dụ hay là On-Screen Caller ID, thực hiện cuộc gọi ID trên TV và có khả năng gửi đến voice mail, v.v... Các dịch vụ dựa trên IP sẽ giúp nhà cung cấp cho khách hàng truy cập nội dung bất cứ khi nào ở bất cứ đâu qua TV, PC, điện thoại di động của khách hàng, các dịch vụ tích hợp và nội dung liên kết chúng với nhau. Trong kinh doanh và các công sở, cần thiết phải chạy trên một hạ tầng song song để phân phối các dịch vụ video có sẵn và xem trực tiếp.

Sự hạn chế[sửa mã nguồn]

Bởi vì IPTV đòi hỏi truyền dẫn dữ liệu theo thời gian thực và sử dụng giao thức IP nên nó dễ bị ảnh hưởng do trễ hoặc mất gói tin nếu kết nối IPTV không đủ nhanh hoặc hình ảnh bị giựt hoặc mất nếu luồng dữ liệu không được xác thực. Mất luồng dữ liệu đã được chứng minh gây ra sự cố khi IPTV cố gắng truyền qua đường vô tuyến. Sự cải tiến kỹ thuật vô tuyến đang được bắt đầu để cung cấp thiết bị đã giải quyết vấn đề trên.

Tham khảo[sửa mã nguồn]

http://en.wikipedia.org/wiki/Iptv