Thẩm phân phúc mạc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Thẩm phân phúc mạc
Phương pháp can thiệp
Peritoneal dialysis.gif
Diagram of peritoneal dialysis
Chuyên khoanephrology
ICD-9-CM54.98
MeSHD010530

Thẩm phân phúc mạc (PD) là một loại lọc máu sử dụng phúc mạc trong bụng của một người như màng mà qua đó các chất lỏng và chất hòa tan được trao đổi với máu.[1] Nó được sử dụng để loại bỏ chất lỏng dư thừa, các vấn đề điện giải, và loại bỏ độc tố ở những người có suy thận.[2] Thẩm phân phúc mạc có kết quả tốt hơn so với chạy thận nhân tạo trong vài năm đầu. [3] Các lợi ích khác bao gồm sự linh hoạt cao hơn và khả năng dung nạp tốt hơn ở những người có bệnh tim đáng kể.[3]

Các biến chứng có thể bao gồm nhiễm trùng trong ổ bụng, thoát vị, đường huyết cao, chảy máu ở bụng và tắc nghẽn ống thông. Sử dụng là không thể ở những người có phẫu thuật bụng trước đáng kể hoặc bệnh viêm ruột. Nó đòi hỏi một mức độ kỹ năng kỹ thuật để được thực hiện đúng cách.

Trong thẩm phân phúc mạc, một giải pháp cụ thể được giới thiệu thông qua một ống vĩnh viễn ở vùng bụng dưới và sau đó được lấy ra. [2] Điều này có thể xảy ra thường xuyên trong suốt cả ngày, được gọi là thẩm tách tuần hoàn liên tục, hoặc vào ban đêm với sự hỗ trợ của một máy, được gọi là thẩm phân phúc mạc tự động. [2] Dung dịch thường được làm bằng natri clorua, hydro cacbonat và một chất thẩm thấu như glucose.[2]

Thẩm phân phúc mạc được thực hiện lần đầu tiên vào những năm 1920; tuy nhiên, việc sử dụng lâu dài đã không đi vào hoạt động y tế cho đến những năm 1960.[4] Giải pháp được sử dụng cho thẩm tách màng bụng là trong Danh sách các loại thuốc thiết yếu của Tổ chức Y tế Thế giới, các loại thuốc hiệu quả và an toàn nhất cần thiết trong một hệ thống y tế.[5] Chi phí của giải pháp lọc máu ở các nước đang phát triển là khoảng 6,77 đến 7,30 USD / túi 2 lít hoặc khoảng 12.000 USD mỗi năm.[6][7] Ở Hoa Kỳ, chi phí của chính phủ cho thẩm phân phúc mạc của một người là khoảng 53,400 USD mỗi năm.[3] Trong thẩm tách màng bụng Hoa Kỳ, chi phí cho chính phủ là 53.400 USD / người / năm.[3] Tính đến năm 2009, thẩm phân phúc mạc đã có sẵn ở 12 trong tổng số 53 nước châu Phi.[7]

Ảnh hưởng sức khỏe[sửa | sửa mã nguồn]

PD kém hiệu quả trong việc loại bỏ chất thải ra khỏi cơ thể hơn là chạy thận nhân tạo, và sự hiện diện của ống dẫn đến nguy cơ viêm phúc mạc do khả năng đưa vi khuẩn vào bụng.[8] Không đủ bằng chứng rõ ràng về cách điều trị tốt nhất cho viêm phúc mạc liên quan đến PD, mặc dù truyền trực tiếp kháng sinh vào màng bụng dường như có lợi thế nhỏ so với đường tiêm tĩnh mạch; không có lợi thế rõ ràng cho các phương pháp điều trị thường được sử dụng khác như rửa dạ dày thường quy hoặc sử dụng urokinase.[9] Việc sử dụng mũi phòng ngừa mupirocin có tác dụng không rõ ràng đối với viêm phúc mạc .[10] Nhiễm trùng có thể xảy ra thường xuyên 15 tháng một lần (0.8 đợt mỗi năm bệnh nhân). So với chạy thận nhân tạo, PD cho phép di chuyển bệnh nhân lớn hơn, ít gây ra các triệu chứng do tính liên tục của nó, và các hợp chất phosphate được loại bỏ tốt hơn, nhưng loại bỏ albumin lớn đòi hỏi phải theo dõi liên tục tình trạng dinh dưỡng. Chi phí của PD thường thấp hơn so với HD ở hầu hết các nơi trên thế giới, lợi thế chi phí này rõ ràng nhất ở các nền kinh tế phát triển.[11] Không có đủ nghiên cứu để so sánh đầy đủ các rủi ro và lợi ích giữa CAPD và APD; Cochrane Review của ba thử nghiệm lâm sàng nhỏ không tìm thấy sự khác biệt về kết quả lâm sàng quan trọng (bệnh tật hoặc tử vong) cho bệnh nhân với bệnh thận giai đoạn cuối, cũng không có lợi thế gì trong việc bảo tồn chức năng của thận. Kết quả cho thấy APD có thể có lợi thế tâm lý xã hội cho bệnh nhân trẻ và những người được tuyển dụng hoặc theo đuổi một nền giáo dục.[12] Các biến chứng khác bao gồm hạ huyết áp (do trao đổi chất lỏng dư thừa và hạ natri máu, giảm đau lưng và [thoát vị] hoặc chất lỏng rò rỉ do áp suất cao trong bụng. PD cũng có thể được sử dụng cho bệnh nhân loạn nhịp tim vì nó không dẫn đến thay đổi nhanh chóng và đáng kể đối với dịch cơ thể, và cho bệnh nhân insulin phụ thuộc đái tháo đường do không có khả năng kiểm soát mức lượng đường trong máu qua ống thông. Tăng triglyceride máubéo phì cũng là mối quan tâm do lượng lớn glucose trong chất lỏng, có thể thêm 500-1200 calorie vào chế độ ăn uống mỗi ngày .[13] Trong ba loại kết nối và hệ thống trao đổi chất lỏng (tiêu chuẩn, túi đôi và y-set; hai loại sau liên quan đến hai túi và chỉ một kết nối với ống thông, bộ y sử dụng một kết nối hình chữ y duy nhất giữa các túi liên quan đổ, xả ra sau đó đổ đầy màng bụng qua cùng một kết nối) các hệ thống túi đôi và y-set đã được tìm thấy vượt trội so với các hệ thống thông thường trong việc ngăn ngừa viêm phúc mạc.[14][Cần cập nhật]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Billings, Diane M. Lippincott's Content Review for NCLEX-RN (bằng tiếng Anh). Lippincott Williams & Wilkins. tr. 575. ISBN 9781582555157. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 1 năm 2017.
  2. ^ a ă WHO Model Formulary 2008 (PDF). World Health Organization. 2009. tr. 453. ISBN 9789241547659. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 13 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2017.
  3. ^ a ă â Barkoudah, Ebrahim (2016). “Dialysis Initiation During the Hospital Stay”. Volume 5, Issue 4, An Issue of Hospital Medicine Clinics, (bằng tiếng Anh). Elsevier Health Sciences. ISBN 9780323463164. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 4 năm 2017.
  4. ^ Nolph, K. D. “History of peritoneal dialysis”. Peritoneal dialysis (bằng tiếng Anh). Springer Science & Business Media. tr. 1.0 and 2.0. ISBN 9789401725606. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 1 năm 2017.
  5. ^ “WHO Model List of Essential Medicines (19th List)” (PDF). World Health Organization. tháng 4 năm 2015. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 13 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2016.
  6. ^ “Dialysis Sol. Peritoneal W/ Dextrose”. International Drug Price Indicator Guide. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2016.
  7. ^ a ă Ronco, Claudio; Crepaldi, Carlo; Cruz, Dinna N. (2009). Peritoneal Dialysis: From Basic Concepts to Clinical Excellence (bằng tiếng Anh). Karger Medical and Scientific Publishers. tr. 244. ISBN 9783805592024. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 1 năm 2017.
  8. ^ Crowley, LV (2009). An Introduction to Human Disease: Pathology and Pathophysiology Correlations. Jones & Bartlett Publishers. tr. 507–509. ISBN 978-0-7637-6591-0. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 6 năm 2013.
  9. ^ Ballinger, AE; Palmer, SC; Wiggins, KJ; Craig, JC; Johnson, DW; Cross, NB; Strippoli, GF (26 tháng 4 năm 2014). “Treatment for peritoneal dialysis-associated peritonitis”. The Cochrane Database of Systematic Reviews (4): CD005284. doi:10.1002/14651858.CD005284.pub3. PMID 24771351.
  10. ^ Campbell, D; Mudge, DW; Craig, JC; Johnson, DW; Tong, A; Strippoli, GF (8 tháng 4 năm 2017). “Antimicrobial agents for preventing peritonitis in peritoneal dialysis patients”. The Cochrane Database of Systematic Reviews. 4: CD004679. doi:10.1002/14651858.CD004679.pub3. PMID 28390069.
  11. ^ Karopadi, AN; Mason G; Rettore E; Ronco C (2013). Zoccali, Carmine (biên tập). “Cost of peritoneal dialysis and haemodialysis across the world”. Nephrol Dial Transplant. 28: 2553–69. doi:10.1093/ndt/gft214. PMID 23737482.
  12. ^ Rabindranath, KS; và đồng nghiệp (2007). Rabindranath, Kannaiyan S (biên tập). “Continuous ambulatory peritoneal dialysis versus automated peritoneal dialysis for end-stage renal disease”. Cochrane Database of Systematic Reviews. 2 (2): CD006515. doi:10.1002/14651858.CD006515. PMID 17443624. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 10 năm 2009.
  13. ^ Ehrman, JK; Gordon P; Visich PS; Keteyian SJ (2008). Clinical Exercise Physiology. Human Kinetics. tr. 268–269. ISBN 0-7360-6565-2. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 6 năm 2013.
  14. ^ Daly, C; Khan, I; Rabindranath, KS; Vale, L; Wallace, SA (13 tháng 8 năm 2014). “Y-set and double bag systems offer the most protection against peritonitis during continuous ambulatory peritoneal dialysis (CAPD)”. Cochrane Database of Systematic Reviews (8): CD003078. doi:10.1002/14651858.CD003078.pub2. PMID 11406068. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 7 năm 2009.