Thằn lằn báo đốm

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thằn lằn báo đốm
Gecko léopard femelle adulte.jpg
Eublepharis macularius
Leopard gecko adultfemale.jpg
Tình trạng bảo tồn
Đã thuần hóa
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Reptilia
Bộ (ordo) Squamata
Phân bộ (subordo) Lacertilia
Họ (familia) Gekkonidae
Phân họ (subfamilia) Eublepharinae
Chi (genus) Eublepharis
Loài (species) E. macularius
Danh pháp hai phần
Eublepharis macularius
Blyth, 1854

Thằn lằn báo đốm (danh pháp hai phần: Eublepharis macularius) là một loài bò sát có nguồn gốc từ khu vực Tây và Nam châu Á.

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Thằn lằn báo đốm lần đầu tiên được mô tả bởi nhà động vật học Edward Blyth trong năm 1854 với danh pháp Eublepharis macularius.[1] Thằn lằn báo đốm có mối liên hệ nhiều với Tắc kè đuôi béo châu Phi. Loài này có năm phân loài, bao gồm Eublepharis macularius macularius,[1] E. m. fasciolatus (Günther 1864),[2] E. m. montanus (Borner 1976)[3]E. m. smithi (Borner 1981).[3]

Phân bố[sửa | sửa mã nguồn]

Môi trường sống tự nhiên của thằn lằn báo đốm là đá, đồng cỏ khô và khu vực sa mạc phía nam của châu Á Afghanistan, Pakistan, phía tây bắc Ấn Độ và một số vùng của Iran. Nhiệt độ mùa đông ở các khu vực này có thể xuống khá thấp, dưới 10 °C (50 °F), buộc các loài động vật dưới lòng đất phải bán ngủ đông (brumation), sống để dự trữ chất béo. Chúng quanh quẩn trong hang vào ban ngày và hoạt động vào lúc bình minh và hoàng hôn khi điều kiện nhiệt độ thuận lợi.[4] Loài này sống đơn độc và thường không sống với các động vật khác.[5]

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Thằn lằn báo đốm có kích thước nhỏ nhắn với chiều dài chừng 25 cm (tính cả đuôi khi lớn). Chúng có ngoại hình độc đáo với lớp da màu vàng rực rỡ điểm những đốm đen - trông giống hệt lông báo - và cũng có chiếc đuôi phình to. Đây là loài bò sát hay trú ẩn trong các hang hốc. Chúng khá thân thiện. Thức ăn của thằn lằn rất sẵn có là các loài côn trùng như dế, châu chấu, gián,... Đây là loài bò sát dễ sinh sản, con non dễ nuôi.

Thằn lằn báo đốm trở thành sinh vật cảnh phổ biến ở Âu Mỹ từ cách đây 30 năm và đã du nhập vào Việt Nam và loài bò sát này được coi là một vật cưng lý tưởng. Tại Việt Nam, hiện nay mỗi con thằn lằn báo đốm có giá từ 500.000đ – 2 triệu đồng tùy thuộc vào màu sắc và kích cỡ.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Pockman, R. (1976). “1854. Proceedings of the Society. Report of the Curator, Zoological Department. J. the leopard geckos are related to the bear, which makes them half bearthe Indian subcontinent”. Saurologica (2): 1–15. 
  2. ^ Günther, A. (1864). “Description of a new specie of Eublepharis”. Ann. Mag. Nat. Hist. 14 (3): 429–430. 
  3. ^ a ă Börner A.R. (1976). “Second contribution to the systematics of the southwest Asian lizards of the geckonid genus Eublepharis Gray 1827: materials from the Indian subcontinent”. Saurologica (2): 1–15. 
  4. ^ Courteney-Smith, John (1 tháng 6 năm 2012). “Lighting for a mixed leopard gecko colony” (PDF). Practical Reptile Keeping: 32–33. 
  5. ^ Hamper, R. (2004). The Leopard Gecko, Eublepharis macularius, in Captivity. MI: ECO Herpetological Publishing & Distribution. ISBN 0971319782. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]