Thị vệ (nhà Thanh)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Bức họa Chiêm Âm Bảo (占音保), Đầu đẳng Thị vệ (頭等侍衛) triều Càn Long (1760)

Dưới thời nhà Thanh (1644-1912), Thị vệ (tiếng Trung: 侍衛; bính âm: shìwèi) hay Thị vệ xứ (侍衛處) là lực lượng quân sự được tuyển chọn từ con em các gia tộc thuộc Bát Kỳ Mãn ChâuMông Cổ, có trách nhiệm canh giữ Tử Cấm Thành, bảo vệ Hoàng đế và hoàng tộc. Lực lượng Thị vệ được phân thành ba bậc: [1] Hộ quân, Tiền phong và Lĩnh thị vệ. [2]

Hộ quân[sửa | sửa mã nguồn]

Hộ quân (Mãn Châu: bayara, giản thể: 护军; phồn thể: 護軍; bính âm: hùjūn), nhiệm vụ là bảo vệ các cung điện trong Tử Cấm Thành. Thành viên là người thuộc Bát Kỳ Mãn Châu và Mông Cổ. Lực lượng Hộ quân bao giờ cũng đông gấp mười lần Tiền phong và Lĩnh thị vệ. [2]

Tiền phong[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền phong (Mãn Châu: gabsihiyan, giản thể: 前锋; phồn thể: 前鋒; bính âm: qiánfēng), gồm 1500 người thuộc Bát Kỳ Mãn Châu và Mông Cổ, là quân tùy thân của Hoàng đế khi xuất hành. [2]

Lĩnh thị vệ[sửa | sửa mã nguồn]

Lĩnh thị vệ (Mãn Châu: hiya, giản thể: 领侍衛; phồn thể: 領侍衛; bính âm: lǐngshìwèi), gồm 1500 người chỉ tuyển chọn trong Bát Kỳ Mãn Châu, đa số đều thuộc Thượng Tam Kỳ (Chính Hoàng Kỳ, Tương Hoàng Kỳ và Chính Bạch Kỳ). Đây là lực lượng thân cận nhất của Hoàng đế.[2]

Nhà Thanh cũng đặt ra chức Lĩnh thị vệ nội đại thần (領侍衛內大臣) hàm Chính nhất phẩm, dành cho các võ quan cao cấp thuộc Thượng Tam Kỳ. Một số đại thần nổi tiếng từng giữ chức vụ này, như: Nạp Lan Minh Châu thời Khang Hy, Phó Hằng, Hòa Thân thời Càn Long, Tăng Cách Lâm Thấm, Vinh Lộc... Có trường hợp do các tông thất nắm giữ như: Miên Ức, Miên Chí, Dịch Khuông,...

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Rawski 1998, tr. 82.
  2. ^ a ă â b Elliott 2001, tr. 81.

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]