Thịnh vượng chung Ba Lan và Litva

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thịnh vượng chung Ba Lan và Litva[a]
Quốc gia Liên Bang

 
Quốc huy
1569–1795
 

 

Quốc kỳ Quốc huy
Cờ của vua Zygmunt III Waza Quốc huy
Khẩu hiệu
tiếng Latinh: Si Deus Nobiscum quis contra nos (Nếu Chúa ở bên chúng ta thì kẻ nào sẽ chống lại chúng ta)
Pro Fide, Lege et Rege
(Latin: Vì Đức tin, Luật pháp và Đức Vua, từ thế kỷ thứ 18)
Vị trí của Liên bang Ba Lan-LitvaThịnh vượng chung Ba Lan-Litva
Vị trí của Vương quốc Ba Lan và Đại Công quốc Litva
Thủ đô của cả hai quốc gia và của Vương quốc Ba Lan: Kraków, Warszawa (từ năm 1600);
của Đại Công quốc Litva: Vilnius[b]
Ngôn ngữ
Tôn giáo
Chính thể Quân chủ, cha truyền con nối (1569–1573 và 1791-1795)
Quân chủ, vua do giới quý tộc bầu lên (1573–1791)
Vua Ba Lan Danh sách vua Ba Lan
Đại Công tước Litva Danh sách những nhà cai trị Litva
Lập pháp Sejm của liên bang Ba Lan-Litva
Lịch sử
 - Thành lập 1 tháng 7, 1569
 - Lần chia cắt thứ nhất 5 tháng 8 năm 1772
 - Hiến pháp ngày 3 tháng 5 năm 1791 3 tháng 5 năm 1791
 - Lần chia cắt thứ 2 23 tháng 1 năm 1793
 - Lần chia cắt thứ 3 24 tháng 10, 1795
Diện tích
 - 1582 815.000 km²; (314.673 mi²)
 - 1618 1.153.465 km²; (445.355 mi²)
Dân số
 - 1582 ước tính 6.500.000 
     Mật độ 8 /km²  (20,7 /mi²)
 - 1618 ước tính 10.500.000 
     Mật độ 9,1 /km²  (23,6 /mi²)
Hiện nay là một phần của  Ba Lan
 Belarus
 Estonia
 Latvia
 Litva
 Moldova
 Nga
 Rumani
 Slovakia
 Ukraina

Thịnh vượng chung Ba Lan và Litva (tiếng Ba Lan: Królestwo Polskie i Wielkie Księstwo Litewskie, tiếng Litva: Lenkijos Karalystė ir Lietuvos Didžioji Kunigaikštystė) hay Liên bang Ba Lan – Litva hay Thịnh vượng chung Ba Lan – Litva là một trong những quốc gia rộng lớn và đông dân nhất châu âu thế kỷ 16 và 17. Nó được thành lập theo liên minh Lublin vào tháng 7 năm 1569, và tan rã năm 1795 bởi cuộc phân chia Ba Lan lần thứ ba. Thịnh vượng chung Ba Lan và Litva có đặc trưng độc nhất so với các quốc gia cùng thời vì hệ thống chính trị của nó đặc trưng bởi sự kiểm soát nghiêm ngặt đối với quyền lực của nhà vua. Những sự kiểm soát này được bảo đảm tồn tại bởi một nghị viện (Sejm) do các quý (szlachta) tộc điều khiển. Đặc điểm của chế độ này là tiền thân của những khái niệm về chế độ dân chủ, quân chủ lập hiến, liên bang hiện đại. Hai quốc gia cấu thành liên bang là ngang hàng nhau, tuy nhiên Ba Lan có ảnh hưởng lớn hơn hẳn trong liên bang.

Một đặc điểm nữa của Thịnh vượng chung Ba Lan và Litva là sự đa dạng về sắc tộc và sự khoan dung tôn giáo hiếm thấy, mặc dù mức độ khoan dung này thay đổi theo thời gian. Sự khoan dung này bị suy giảm đáng kể sau sự kiện gọi là Trận đại hồng thủy (Tiếng Ba Lan: Potop), một thời kỳ hỗn loạn do cuộc xâm lăng của Đế quốc Thụy Điển gây ra cho Ba Lan. Dưới triều vua Jan III Sobieski, Quân đội Ba Lan đánh bại được quân Thổ Nhĩ Kỳ và quân Tartar, đánh đuổi quân Thổ ra khỏi thành Viên vào năm 1683, cứu vãn Thiên Chúa giáo châu Âu và mở ra một bước ngoặt trong lịch sử châu lục này.[1]

Sau nhiều thập kỷ của quyền lực và lãnh thổ rộng lớn của thịnh vượng chung đi vào thời kỳ suy thoái kéo dài. Quân đội và kinh tế suy giảm, sự suy yếu dần của Thịnh vượng chung Ba Lan và Litva dẫn đến sự phân chia nó giữa các cường quốc láng giềng mạnh hơn Đế quốc Áo, Vương quốc PhổĐế quốc Nga vào cuối thế kỷ 18. Vào năm 1772, Thịnh vượng chung Ba Lan và Litva yếu đuối bị mất 1/3 lãnh thổ trong cuộc chia cắt Ba Lan lần thứ nhất - một sự kiện góp phần củng cố địa vị liệt cường của Vương quốc Phổ sau khi nước này thắng trận trong cuộc Chiến tranh Bảy năm (1756 - 1763).[2] Trong khoảng thời gian ngắn trước khi bị xóa sổ, thịnh vượng chung đã cố gắng thông qua các cải cách lớn và ban hành hiến pháp ngày 3 tháng 5 năm 1791. Văn bản được xem như là hiến pháp lâu đời thứ hai trong lịch sử hiện đại.[3][4][5][6].

Tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Tên gọi chính thức của thực thể này là Thịnh vượng chung Ba Lan và Litva (tiếng Ba Lan: Królestwo Polskie i Wielkie Księstwo Litewskie, tiếng Litva: Lenkijos Karalystė ir Lietuvos Didžioji Kunigaikštystė, tiếng Belarus: Каралеўства Польскае і Вялікае Княства Літоўскае). Nó được nhắc đến trong các tài liệu trước thế kỷ 18 bằng tên Tiếng La TinhRegnum Poloniae Magnusque Ducatus Lithuaniae. Từ thế kỷ 17 trở đi nó thường được nhắc đến như Nước cộng hòa thanh bình nhất/Cộng hòa Ba Lan (tiếng Ba Lan: Najjaśniejsza Rzeczpospolita Polska, tiếng Latinh: Serenissima Res Publica Poloniae) trong thư từ ngoại giao[7]. Người dân của quốc gia này thường gọi tên của đất nước mình là Rzeczpospolita (cộng hòa) (tiếng Ba Lan: Rzeczpospolita, tiếng Ruthenia: Рѣч Посполита, tiếng Litva: Žečpospolita). Những người nước ngoài chỉ thường gọi nó là Ba Lan mặc dù Ba Lan chỉ là một thành viên trong liên minh này.

Thuật ngữ phổ biến gần đây trong tiếng Ba Lan "Rzeczpospolita Obojga Narodów" (Thịnh vượng chung/ Cộng hòa của hai quốc gia/ hai quốc gia) mới chỉ xuất hiện vào thế kỷ 20.[8]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tập tin:BalanLithuania1619.png
Thịnh vượng chung Ba Lan và Litva năm 1619

Ba Lan và Litva đã trải qua những cuộc chiến tranh và liên minh với nhau trong suốt thế kỷ 14 và đầu thế kỷ 15. Vài hiệp ước liên minh đã từng được thiết lập rồi xóa bỏ trước khi thành lập Liên minh Lublin năm 1569 (liên minh Krakow và Vilna, liên minh Krewo, liên minh Vilnius và Radom, liên minh Grodno, liên minh Horodlo). Hiệp ước liên minh này là thành tựu đáng kể của Zygmunt II Augustus, vị vua cuối cùng của triều đại Jagiello. Zygmunt II Augustus tin rằng có thể duy trì được triều đại của mình bằng cách chấp nhận việc vua của đất nước được bầu ra chứ không phải theo truyền thống cha truyền con nối. Cái chết của ông năm 1572 được nối tiếp bởi thời kỳ ngắt quãng ba năm, trong thời gian đó đã có những điều chỉnh để cho ra đời một hệ thống hiến pháp, những sự điều chỉnh này làm tăng đáng kể quyền lực của giới quý tộc Ba Lan và thiết lập một chế độ bầu chọn Quân Vương thực sự.

Thịnh vượng chung Ba Lan và Litva đạt đến thời kỳ hoàng kim của nó trong thế kỷ 17. Nghị viện có quyền lực lớn được kiểm soát bởi những quý tộc. Những người đã miễn cưỡng dây dưa vào cuộc chiến tranh Ba Mươi năm. Phần nhiều sự trung lập này đã miễn cho đất nước khỏi sự tàn phá của những cuộc xung đột chính trị tôn giáo đã tàn phá hầu hết châu Âu thời đó. Thịnh vượng chung Ba Lan và Litva đã có thể có được khả năng chống lại những địch thủ của mình là Thụy Điển, Nga và những chư hầu của Đế Quốc Ottoman. Không những vậy, nó bắt đầu bành trướng thành công trong những cuộc tấn công chống lại những quốc gia láng giềng. Trong một số cuộc xâm lược Nga, Ba Lan-Litva đã chiếm được Moskva và chiếm đóng nó từ 27 tháng 9 năm 1610 đến 4 tháng 11 năm 1612 cho đến cuộc kháng cự quyết liệt để giải vây của người Nga..

Thịnh vượng chung Ba Lan và Litva năm 1648

Sức mạnh của Thịnh vượng chung Ba Lan và Litva bắt đầu suy yếu sau hàng loạt cuộc tấn công trong những thập kỷ tiếp theo. Những cuộc khởi nghĩa lớn của người Cozak ở phía đông nam bắt đầu từ năm 1648 làm suy yếu dần thịnh vượng chung này. Nó là kết quả của yêu sách đòi tiếng Ukraina, dưới các điều khoản của hiệp ước Pereyaslav được bảo hộ bởi Nga hoàng. Ảnh hưởng của Nga với Ukraina dần thay thế Ba Lan. Cuộc tấn công khác nhằm vào Thịnh vượng chung Ba Lan và Litva là cuộc xâm lược của người Thụy Điển năm 1655, được hỗ trợ bởi quân của công tước Transilvania György Rákóczi II và đại tuyển hầu của Brandenburg Friedrich Wilhelm I. Và sự kiện mang tên Trận đại hồng thủy là kết quả của cuộc xâm lăng của Thụy Điển đối với Ba Lan-Litva. Quân đội Thụy Điển, do vua Karl Gustav - tức "vua Pyrros của phương Bắc" thân chinh thống lĩnh, đánh tan tác Quân đội Ba Lan trong trận Warsawa (1656).[9]

Vua Jan III Sobieski trong trận Viên ngày 12 tháng 9 năm 1683 họa phẩm của Jan Matejko

Vào cuối thế kỷ 17, vị vua vĩ đại cuối cùng của Thịnh vượng chung Ba Lan và Litva Jan III Sobieski đã liên minh với Leopold I hoàng đế của Đế quốc La Mã Thần thánh để đối phó với mối đe dọa của Đế quốc Ottoman. Trong năm 1683, tại trận Viên là trận đánh quyết định trong 250 năm chiến tranh giữa hai thế lực thiên chúa giáo châu Âu và hồi giáo của Đế quốc Ottoman. Trong những thế kỷ dài chống lại sự xâm lấn của người Hồi giáo, Thịnh vượng chung Ba Lan và Litva đã giành được cái tên lực lượng bảo vệ của thiên chúa giáo. 16 năm tiếp theo trong cuộc đại chiến Thổ Nhĩ Kỳ người Thổ đã bị đánh đuổi vĩnh viễn khỏi phía nam sông Danube, không bao giờ đe dọa được khu vực trung tâm châu âu một lần nữa.

Thịnh vượng chung Ba Lan và Litva năm 1789-1792

Đến thế kỷ 18, sự bất ổn về chính trị đã làm cho Ba Lan đi đến bờ vực của sự hỗn loạn. Nội bộ Thịnh vượng chung Ba Lan và Litva trở nên lục đục dễ bị các quốc gia khác chi phối. Dưới triều vua Louis XIV, nước Pháp trở thành một đồng minh, thậm chí là người bảo hộ của Ba Lan.[10] Sau này, Nga hoàng Pyotr I Đại Đế trở thành vị vua thực sự của Ba Lan.[10] Trong cuộc Đại chiến Bắc Âu, ông luôn luôn lợi dụng những cuộc mâu thuẫn nội bộ của Ba Lan mà hành động. Một cuộc nội chiến giữa nhà vua và quý tộc đã nổ ra vào năm 1715, Nga hoàng Pyotr I Đại Đế đã đứng ra hòa giải và hành động đó càng làm suy yếu hơn nữa liên bang. Quân đội Nga hiện diện tại Nghị viện Im lặng năm 1717, điều này đã buộc Ba Lan giới hạn quân đội của mình ở mức 24 nghìn người và tái khẳng định quyền tự do phủ quyết (liberum veto), trục xuất quân đội của Tuyển hầu Sachsen khỏi Ba Lan. Cuối cùng Nga hoàng Pyotr I Đại Đế đã thành công trong việc đưa Thịnh vượng chung Ba Lan và Litva trở thành một chư hầu của nước Nga. Dưới triều vua Louis XV, nước Pháp toan tính khôi phục lại quyền bảo hộ Ba Lan, và vua Pháp đã tôn người cha vợ của mình là Stanisław I Leszczyński làm vua Ba Lan.[10]

Nhưng trong cuộc Chiến tranh Kế vị Ba Lan, liên quân Nga - Áo đánh bại quân Pháp, Quân đội Phổ là quân chư hầu của quân Áo cũng tham chiến. Hoàng thái tử nước Phổ là Friedrich, tức Quốc vương Friedrich II Đại Đế tương lai, đã tham chiến dưới quyền Vương công Eugène xứ Savoie. Đến giữa thế kỷ 18, tình hình chính trị châu Âu diễn ra thất thường.[10] Trong lần này, vị vua kiệt xuất tương lai của nước Phổ đã nhận thấy sự lôi thôi và hỗn loạn của Triều đình vua Stanisław I Leszczyński - vị cựu vương đã lánh nạn sang thủ phủ Königsberg của vùng Đông Phổ. Nhà sử học người Đức là Reinhold Koser có ghi nhận:[11]

Những nhận thức của vua Friedrich về sự thối nát và những mưu đồ của người Ba Lan đã đem lại cho Người quan điểm riêng về dân tộc này trong quãng đời còn lại của Người.

—Koser, 1921, I, 99-100.

Trong cuộc Chiến tranh Bảy năm, giữa liên quân Nga - Áo - Pháp - Thụy Điển - Sachsen..., Quân đội Nga thường dùng Ba Lan làm bàn đạp cho các chiến dịch của họ. Vào năm 1761, Quân đội Phổ từng truy kích quân Nga vào Ba Lan và phá vỡ kho đạn dược của họ.[12] Sau cuộc chiến tranh này, việc vua Ba Lan là August III (1763) lại dấy lên tranh cãi về việc kế vị ngai vàng Ba Lan. Vương quốc Phổ giành chiến thắng trong cuộc Chiến tranh Bảy năm, họ bảo vệ được đất nước[13] và không còn là chư hầu của các nền quân chủ phía Đông, mà là một cường quốc láng giềng các nước kia, do đó Triều đình Phổ đã can thiệp vào vấn đề Ba Lan. Khác với vua cha Friedrich Wilhelm I năm xưa, Quốc vương Friedrich II Đại Đế không để cho hai nước Áo và Nga tự do can thiệp vào vấn đề Ba Lan, trong bối cảnh châu Âu đã kiệt quệ với cuộc Chiến tranh Bảy năm và hai nước Nga, Áo có thể lợi dụng tình hình vô chính phủ của Ba Lan.[10][14] Ông lo sợ Nữ hoàng NgaEkaterina II sẽ hoàn tất công cuộc sáp nhập Ba Lan vào Nga qua việc đưa một người tình cũ của bà là nhà quý tộc người Ba Lan tên là Stanisław Antoni Poniatowski lên làm Quốc vương Ba Lan, tức vua Stanisław II August Poniatowski. Một khi Đế quốc Nga trở nên quá hùng mạnh, họ có thể chiếm luôn vùng đất Đông Phổ do vùng đất này bị ngăn cách với phần đất còn lại của chế độ quân chủ nước Phổ.[10]

Không những thế, Vương quốc Phổ không có một đồng minh nào sau chiến thắng của họ trong cuộc Chiến tranh Bảy năm. Do đó, vua Friedrich II Đại Đế, với sự phò tá đắc lực của người em có tài ngoại giao là Hoàng tử Heinrich, quyết định liên minh với Đế quốc Nga và can thiệp vào tình hình Ba Lan. Việc Nữ hoàng Ekaterina II Đại Đế tôn Poniatowski làm Quốc vương Ba Lan cũng không được Triều đình Áo ủng hộ, vì vậy bà cần sự ủng hộ của Triều đình Phổ. Vào năm 1764, Liên minh Nga - Phổ được thiết lập, một trong các điều khoản của Liên minh này là cả hai cường quốc Phổ và Nga đều là "những người bảo hộ của quyền bầu cử tự do của nhân dân Ba Lan" và đều là những người bảo trợ của vua Stanisław II Poniatowski. Liên minh Nga - Phổ đã đưa nước Phổ thoát khỏi nguy cơ cô lập, đóng vai trò quan trọng đối với vua Friedrich II Đại Đế. Triều đình Phổ giờ đây có thể đục khoét sâu vào vấn đề Ba Lan để chi phối những chính sách của Triều đình Nga.[10] Vào năm 1768, nước Ba Lan chỉ khá hơn một chút so với một tỉnh của nước Nga, trong khi Liên minh Bar được một nhóm quý tộc thiết lập vào năm 1768, vùng lên khởi nghĩa chống lại quân Nga. Quân đội Nga đánh bại quân khởi nghĩa Bar và đẩy lui họ về Thổ Nhĩ Kỳ. Quân Thổ tuyên chiến với quân Nga, nhưng bị đánh thảm bại, và quân Nga tiến đánh xứ Wallachia và xứ Moldavia - ngày nay là România.[15]

Nước Áo lo sợ quân Nga sẽ vượt sông Danube, nên tổng động viên quân sĩ ở vùng biên giới và đe dọa chiến tranh với Nga. Qua Hiệp ước phòng thủ Nga - Phổ (1764), Quốc vương Friedrich II Đại Đế phải phái một đạo quân đến giúp quân Nga, hoặc là viện trợ cho họ khi có chiến tranh nổ ra. Do đó, nước Phổ ở trong tình thế nguy hiểm: hai nước Nga và Áo có thể sẽ cùng nhau xâu xé Thổ Nhĩ Kỳ rồi sau đó xé bỏ Liên minh Nga - Phổ. Do đó, ông hoạt động vô cùng năng nổ cho công cuộc xâu xé Ba Lan sắp tới.[15] Vào năm 1772, ông yêu cầu Nữ hoàng Ekaterina II và Nữ hoàng Áo Maria Theresia tiến hành cuộc chia cắt Ba Lan lần thứ nhất. Công cuộc xâu xé Ba Lan đã mang lại thành công vang dội cho Vương quốc Phổ, vì vùng Đông Phổ đã được thống nhất với tỉnh Pomerania và những phần đất còn lại của vua Friedrich II Đại Đế.[15][16] Nước Nga giành được một phần đất rộng lớn hơn hẳn Phổ, và nước Áo giành được một phần đất đông dân hơn hẳn Phổ, nhưng nước Phổ nhận được lợi thế nhất. Vùng Đông Phổ không còn bị cô lập, vua Phổ mở được những vùng biên cương chiến lược của đất nước đến sông Wislasông Netze.

Không những thế, theo ông, cuộc chia cắt Ba Lan khét tiếng giữa ba nền quân chủ vĩ đại của châu Âu khi đó đã xóa bỏ nguy cơ diễn ra một cuộc chiến tranh lớn.[17] Sau cuộc chia cắt này, vua Friedrich II Đại Đế nhận thấy phần đất Ba Lan mà ông chiếm được đã lâm vào hỗn loạn. Ông thân hành thị sát khắp các vùng đất này, và xóa tan tình trạng hỗn loạn. Tuy Triều đình Phổ thống trị hà khác, ông đã mang lại cho phần đất này một cuộc sống khá ấm no.[15]

Hiến pháp ngày 3 tháng 5 năm 1791 họa phẩm của Jan Matejko

Đến các thập niên 1780 - 1790, trong khi nước Nga lâm chiến với Thổ Nhĩ KỳThụy Điển, nhân dân Ba Lan nhận thấy cơ hội giành lại độc lập cho mình. Vua nước Phổ là Friedrich Wilhelm II hứa sẽ giúp đỡ phong trào Cách mạng Ba Lan, và lời hứa hẹn này đã khuyến khích dân tộc Ba Lan ban hành Hiến pháp vào ngày 3 tháng 5 năm 1791, bãi bỏ quyền "tự do phủ quyết" và tuyên bố thực hiện chế độ quân chủ cha truyền con nối. Nhưng sau đó, Triều đình Nga ký kết hòa ước với Triều đình Thổ Nhĩ Kỳ, quân Nga tiến đánh Ba Lan. Quân khởi nghĩa Ba Lan chống cự yếu ớt. Cùng lúc, phong trào Cách mạng Pháp bùng nổ, do không muốn nước Phổ phải đương đầu với cả Pháp lẫn Nga, vua Friedrich Wilhelm II không những không giúp Ba Lan, mà lại còn xua quân chinh phạt nước này. Để khuyến khích Triều đình Phổ chiến đấu mãnh liệt với Cách mạng Pháp, và để ngăn ngừa Triều đình Phổ giúp đỡ Ba Lan, Triều đình Nga thỏa thuận chia cắt Ba Lan với Triều đình Phổ, và đó là cuộc chia cắt Ba Lan lần thứ hai (1793).[18].

Tuy nhiên, vào Mùa Xuân năm sau, nhân dân Ba Lan lại vùng lên khởi nghĩa. Họ giết chết hoặc bắt sống binh lính Nga đồn trú ở kinh đô Warsawa. Hay tin, Quốc vương Friedrich Wilhelm II xua Quân đội Phổ đến đánh bại quân khởi nghĩa Ba Lan và đánh úp Cracow, nhưng phải rút khỏi kinh thành Warsawa để đối mặt với một cuộc bạo loạn ở miền Nam Phổ. Trong khi đó, quân tinh nhuệ Nga và Áo cũng xâm lược Ba Lan, dưới sự chỉ huy của Nguyên soái Aleksandr Vasilyevich Suvorov và viên tướng Ivan Ivanovitch Hermann von Fersen. Để ngăn cách hai đạo quân Nga của Suvorov và Fersen liên kết với nhau, quân khởi nghĩa Ba Lan tấn công quân Nga của Fersen, nhưng bị đánh tan tác và người thủ lĩnh của họ bị bắt làm tù binh. Quân Nga của Nguyên soái Suvorov cũng chiếm đóng thành phố Praha. Cuộc chiến đấu kết thúc với sự kiện kinh đô Warsawa thất thủ và Stanisław II thoái vị, ông mất năm 1798 tại kinh đô Sankt-Peterburg của Nga. Cuối cùng, cuộc chia cắt Ba Lan lần thứ ba (1795), cũng là cuộc chia cắt Ba Lan lần cuối cùng được thực hiện giữa ba nước Phổ, Áo và Nga. Kinh thành Warsawa rơi vào tay Vương quốc Phổ.[18] Với cuộc chia cắt Ba Lan vào năm 1795, Ba Lan và Litva đã hoàn toàn bị xóa sổ khỏi bản đồ châu Âu.[19] Năm 1918 nền độc lập của Ba Lan và Litva mới được khôi phục lại hoàn toàn.

Tổ chức nhà nước và chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Quyền tự do vàng[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kỳ hoàng kim của nền cộng hòa. Một cuộc bầu chọn vua Ba Lan năm 1573 họa phẩm của Jan Matejko.

Học thuyết chính trị của Thịnh vượng chung Ba Lan và Litva là: nhà nước của chúng ta là một nền cộng hòa dưới nhiệm kỳ cai trị của nhà vua. Quan chưởng ấn Jan Zamoyski đã khẳng định lại học thuyết này khi ông nói rằng: Rex regnat et non gubernat ( nhà vua ngự trị nhưng không cai trị). Thịnh vượng chung Ba Lan và Litva cho phép lập một nghị viện, Sejm. Nhà vua có nghĩa vụ tôn trọng các quyền công dân được ghi rõ trong các điều luật của vua Henry cũng như trong Pacta conventa (những thỏa thuận phải tán thành) đã được đàm phán vào lúc bầu chọn ông.

Quyền lực của nhà vua bị giới hạn vì sự chi phối của số đông tầng lớp quý tộc. Mỗi vị vua mới phải ký vào những điều luật của vua Henry, thứ trở thành nền tảng của hệ thống chính trị Ba Lan(và bao gồm cả những cam kết gần như chưa từng có đối với sự khoan dung tôn giáo). Theo thời gian, các điều luật của vua Henry đã hợp nhất với Pacta conventa trở thành những cam kết rõ ràng mà vị vua mới được bầu phải chấp nhận. Từ thời điểm đó trở đi, nhà vua thực sự trở thành một cộng sự với giới quý tộc và luôn bị giám sát bởi một nhóm nghị sĩ. Sejm có quyền phủ quyết nhà vua trong những vấn đề quan trọng, bao gồm cả quyền lập pháp, những vấn đề đối ngoại, tuyên bố chiến tranh và cả hệ thống thuế (những thay đổi đối với các loại thuế hiện hành hoặc tiền thu được từ một loại thuế mới).

Nền tảng hệ thống chính trị của Thịnh vượng chung Ba Lan và Litva, quyền tự do vàng(Tiếng Ba Lan: Zlota Wolność, một thuật ngữ được sử dụng từ năm 1573 trở đi) bao gồm:

  • Tự do bầu chọn vua bởi tất cả quý tộc muốn tham gia.
  • Sejm tức nghị viện của liên bang, Nhà vua phải tổ chức hai năm một lần.
  • Pacta conventa (Tiếng La Tinh), "Những thỏa thuận phải tán thành" Đàm phán với vị vua mới được bầu, Bao gồm cả một dự luật về các quyền ràng buộc lên nhà vua xuất phát từ các điều luật của vua henry trước đó.
  • Rokosz (quyền nổi dậy) là quyền của szlachta để tạo ra một cuộc nổi dậy hợp pháp chống lại một vị vua vi phạm sự bảo đảm các đặc quyền của szlachta.
  • Liberum veto (Tiếng La Tinh) Quyền của một nghị sĩ trong Sejm để chống lại một phán quyết trước số đông trong một kỳ họp Sejm. Những tuyên bố tự do phủ quyết như vậy sẽ làm vô hiệu hóa tất cả các đạo luật định thông qua trong kỳ họp đó, trong thời kỳ khủng hoảng vào nửa sau thế kỷ 17, các quý tộc Ba Lan có khả năng sử dụng cả quyền tự do phủ quyết tại Sejmik (nghị viện địa phương).
  • Konfederacja, quyền thành lập một tổ chức thông qua quyền lực để nhắm đến một mục tiêu chính trị chung.

Ba khu vực của Thịnh vượng chung Ba Lan và Litva được hưởng quyền tự trị. Mỗi Voivodship (đơn vị hành chính của Ba Lan-Litva tương đương với tỉnh) có một nghị viện riêng (Sejmik) để thực hiện các quyền hạn chính trị, bao gồm cả lựa chọn đại diện đến Sejm quốc gia và giao cho người đại diện các chỉ dẫn cụ thể để biểu quyết tại Sejm. Đại công quốc Litva có quân đội, ngân khố riêng và thành lập hầu hết các chính quyền khác của mình.

Quyền tự do vàng tạo ra một nhà nước đặc biệt trong thời đại của nó. Mặc dù có phần tương tự với những chế độ chính trị tồn tại ở các thành bang cùng thời như cộng hòa Venezia. Điều thú vị là cả hai nhà nước này đều được gọi là nước cộng hòa thanh bình nhất. Vào thời điểm hầu hết các quốc gia châu âu đều tập trung vào chế độ quân chủ chuyên chế, chiến tranh giữa các triều đại và tôn giáo. Duy nhất Thịnh vượng chung Ba Lan và Litva thử nghiệm với mô hình về sự phân quyền, liên minh và liên bang, nền dân chủ, sự khoan dung tôn giáo và thậm chí cả chủ nghĩa hòa bình. Sejm thường sử dụng quyền phủ quyết trong các cuộc chiến tranh được xem như một ví dụ về học thuyết hòa bình dân chủ.

Hệ thống chính trị đặc biệt so với thời đại của nó xuất phát từ sự thắng lợi của tầng lớp quý tộc szlachta trước những tầng lớp xã hội khác và trước chế độ quân chủ. Theo thời gian, Szlachta đã tích lũy đủ các đặc quyền điều mà không một vị vua nào có thể hi vọng đánh đổ được sự nắm quyền của szlachta. Thịnh vượng chung Ba Lan và Litva có thể được miêu tả như một sự pha trộn của:

  • Liên minh và liên bang, Vì tồn tại quyền tự trị rộng rãi của các khu vực. Song điều đó trở thành khó khăn khi muốn kêu gọi một trong số các liên minh hoặc liên bang trong thịnh vượng chung.
  • Đầu sỏ chính trị, vì chỉ có szlachta tức gần 15% dân số có quyền lực chính trị.
  • Chế độ dân chủ, vì tất cả szachta có các quyền và đặc quyền ngang nhau, và Sejm có quyền phủ quyết nhà vua trong các vấn đề quan trọng. Ngoài ra 15% dân số của thịnh vượng chung được hưởng các quyền lợi chính trị đấy (các szlachta) một tỷ lệ lớn hơn hầu hết các nước châu âu, lưu ý rằng vào năm 1789 ở Pháp chỉ có khoảng 1% dân số có quyền bầu cử, và vào năm 1867 ở Anh chỉ khoảng 3%.
  • Nền quân chủ bầu chọn vua, vì nhà vua được bầu bởi các szlachta.
  • Quân chủ lập hiến, vì nhà vua bị giới hạn bởi Pacta conventa và những đạo luật khác và szlachta có thể bất tuân mệnh lệnh của bất kỳ vị vua nào mà họ cho rằng bất hợp pháp.

Di sản[sửa | sửa mã nguồn]

Công quốc Warszawa được thành lập năm 1807 là vết tích còn lại của thịnh vượng chung. Những phong trào phục hồi khác xuất hiện trong cuộc Khởi nghĩa tháng Mười Một (1830–31), Khởi nghĩa tháng Giêng (1863–64) và vào năm 1920 gồm cả những nỗ lực thất bại của Józef Piłsudski nhằm tạo ra Międzymorze một liên bang gồm nhiều quốc gia đông-trung Âu và vùng Ban Tích dưới sự bảo trợ của Ba Lan nhằm phục hồi lại nhà nước Ba Lan-Litva cũ, liên bang đó sẽ bao gồm cả Litva và Ukraina. Ngày hôm nay Cộng hòa Ba Lan tự xem mình là quốc gia kế thừa của thịnh vượng chung.[20] Nhưng ngược lại, cộng hòa Litva được thành lập vào cuối chiến tranh thế giới thứ nhất xem sự tham gia của Litva vào Thịnh vượng chung Ba Lan và Litva xưa kia hầu hết bằng một cái nhìn phủ nhận trong giai đoạn đầu giành lại độc lập của mình[21] Nhưng quan điểm này đã thay đổi gần đây.[22]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Mark Grossman, World military leaders: a biographical dictionary, trang 174
  2. ^ Gregorio F. Zaide, World history, trang 273
  3. ^ "Poland." Encyclopædia Britannica. 2009. Encyclopædia Britannica Online. Retrieved 5 August 2009
  4. ^ Blaustein, Albert (January năm 1993). Constitutions of the World. Fred B. Rothman & Company. 
  5. ^ Isaac Kramnick, Introduction, Madison, James (November năm 1987). The Federalist Papers. Penguin Classics. ISBN 0-14-044495-5.  Đã bỏ qua tham số không rõ |autorlink= (trợ giúp)
  6. ^ John Markoff describes the advent of modern codified national constitutions as one of the milestones of democracy, and states that "The first European country to follow the U.S. example was Poland in 1791." John Markoff, Waves of Democracy, 1996, ISBN 0-8039-9019-7, p.121.
  7. ^ Tỉ như nó là tên của thực thể này trong các hòa ước sau: [1], [2]
  8. ^ Although the terms Rzeczpospolita (Commonwealth/Republic) and Oba Narody (Two/Both Nations) were widespread in the period, and were used in the combined form for the first time only in 1967 in Paweł Jasienica's book thus entitled.
  9. ^ John Sobieski, 1881, trang 14
  10. ^ a ă â b c d đ Gerhard Ritter, Frederick the Great : a historical profile, các trang 186-188.
  11. ^ Christopher Duffy, Frederick the Great: A Military Life, Trang XXXI
  12. ^ Christopher Duffy, Frederick the Great: A Military Life, trang 224
  13. ^ Christopher Duffy, Frederick the Great: A Military Life, trang 242
  14. ^ Christopher Duffy, Frederick the Great: A Military Life, trang 263
  15. ^ a ă â b C B Brackenbury, C. B. Brackenbury, Frederick the Great, các trang 251-254.
  16. ^ Heinrich von Treitschke, George Haven Putnam, Confessions of Frederick the Great and the Life of Frederick the Great, trang 22
  17. ^ Christopher Duffy, Frederick the Great: A Military Life, trang 266
  18. ^ a ă Wilhelm Pütz, Handbook of modern geography and history, tr. by R.B. Paul, trang 153
  19. ^ Colin R. Bruce, Thomas Michael, Standard Catalog of World Coins 1901-2000, trang 658
  20. ^ A. stated, for instance by the preamble of the Constitution of the Republic of Poland of 1997.
  21. ^ Alfonsas Eidintas, Vytautas Zalys, Lithuania in European Politics: The Years of the First Republic, 1918–1940, Palgrave, 1999, ISBN 0-312-22458-3. Print, p78
  22. ^ “"Zobaczyć Kresy". Grzegorz Górny. Rzeczpospolita 23-08-2008 (in Polish)” (bằng (tiếng Ba Lan)). Rp.pl. 23 tháng 8 năm 2008. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2009. 

Sách đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]