Thịt lợn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thịt lợn: khúc thịt ba rọi cắt vuông
Sơ đồ vị trí những khúc thịt heo

Thịt lợn hay thịt heo là phần thịt của con lợn (lợn nhà). Đây là một loại thực phẩm rất phổ biến trên thế giới. Đối với những người theo Hồi giáo hoặc đạo Do Thái thì ăn thịt lợn là điều cấm kỵ vì lợn được xếp vào nhóm loài vật ô uế. Tuy nhiên, ở Việt Nam, trong cơ cấu tiêu thụ thịt của người Việt thì thịt heo chiếm tới 73,3%, thịt gia cầm là 17,5% và chỉ 9,2% còn lại là thịt đỏ (thịt bò, thịt trâu, thịt dê)[1], điều này xuất phát từ truyền thống ẩm thực của người Việt thường ăn thịt lợn và thịt gà nhiều hơn các loại thịt khác[2].

Khúc thịt[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Khúc thịt lợn
Lợn róc thịt

Việt Nam có thể nhìn là phân biệt được đâu là thịt thủ (phần đầu), thịt vai, sườn, sườn non, thịt mông, thịt đùi, thịt ba rọi, thịt thăn, nạc thăn, chân giò. Còn ở các nước hiện đại nơi mà lợn được mổ trong lò sát sinh và đóng thành từng gói bán ở siêu thị thì các gói phải đề tên loại thịt để người tiêu thụ biết mà mua.

Thịt ngon nhất là phần giữa cổ và vai tức là ở gáy và phần chân giò vì nơi đó nạc và mỡ hòa vào nhau nên ăn không bị khô mà cũng không bị ngấy. Thịt bụng thì nhiều mỡ ăn dễ ngấy. Thịt thăn là thịt nạc nên dễ khô nếu không nấu khéo. Ngoài ra thì thịt ba chỉ (còn được gọi là ba rọi) cũng khúc thịt được ưa chuộng.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]