Bước tới nội dung

Thời đại hoàng kim của Hồi giáo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Thời đại hoàng kim Hồi giáo
thế kỷ 8 – thế kỷ 13
Các học giả tại một thư viện ở Baghdad
Địa điểmThế giới Hồi giáo đổ về Baghdad
Quân chủNhà Abbas
Lãnh đạoBao gồm Harun al-Rashid
Bảng niên đại
al-Hadi (786) Cuộc xâm lược của Mông Cổ (1258)

Thời đại hoàng kim của Hồi giáo là thời kỳ hưng thịnh về văn hóa, kinh tế và khoa học trong lịch sử Hồi giáo, thường được tính là kéo dài từ thế kỷ thứ 8 đến thế kỷ 14.[1][2][3]

Theo truyền thống, tời kỳ này được tính là bắt đầu từ thời kỳ cai trị của khalip nhà Abbas Harun al-Rashid (786 đến 809), với việc khánh thành Nhà trí tuệBaghdad. Các học giả từ khắp thế giới Hồi giáo đổ về Baghdad, thành phố lớn nhất thế giới thời bấy giờ, để dịch tất cả các kiến thức cổ đại đã được biết đến của thế giới sang ngôn ngữ Ả Rập.[4][5] Thời kỳ này theo truyền thống được cho là đã kết thúc cùng với sự sụp đổ của nhà Abbas do cuộc xâm lược của Mông CổCuộc vây hãm Baghdad vào năm 1258.[6]

Có một số cách tính mốc thời gian khác của thời kỳ này. Một số học giả đặt sự kết thúc của nó vào khoảng năm 1350, nghĩa là tính cả Thời kỳ Phục Hưng Timur vào thời đại này.[7][8] Trong khi đó, một số khác đặt sự kết thúc của Thời đại hoàng kim Hồi giáo vào thế kỷ khoảng từ thế kỷ 15, nghĩa là tính cả sự trỗi dậy của những đế quốc thuốc súng Hồi giáo vào thời đại này [9][10][11]

Lịch sử khái niệm

[sửa | sửa mã nguồn]

Phép ẩn dụ về một thời kỳ hoàng kim bắt đầu được áp dụng trong văn học thế kỷ 19 về lịch sử Hồi giáo, trong bối cảnh thời trang thẩm mỹ phương Tây được gọi là chủ nghĩa phương Đông. Tác giả cuốn Cẩm nang dành cho khách du lịch ở Syria và Palestine năm 1868 đã quan sát rằng các nhà thờ Hồi giáo đẹp nhất của Damascus là "giống như chủ nghĩa Mohammed, hiện đang suy tàn nhanh chóng" và các di tích của "thời kỳ hoàng kim của đạo Hồi".[12]

Nguyên nhân

[sửa | sửa mã nguồn]
Sự mở rộng của các vương triều Hồi giáo, 622–750:

Ảnh hưởng tôn giáo

[sửa | sửa mã nguồn]

Những lời răn dạy khác nhau của Kinh Qur'an, coi trọng giáo dục và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tiếp thu kiến thức, đã đóng vai trò quan trọng trong việc ảnh hưởng đến người Hồi giáo thời đại này trong quá trình tìm kiếm kiến thức và phát triển cơ sở khoa học. [13] [14] [15]

Tài trợ của chính phủ

[sửa | sửa mã nguồn]

Đế chế Hồi giáo rất bảo trợ cho các học giả. Số tiền chi cho Phong trào dịch thuật cho một số bản dịch ước tính tương đương với khoảng gấp đôi ngân sách nghiên cứu hàng năm của Hội đồng nghiên cứu y khoa của Vương quốc Anh. [16] Các học giả và dịch giả nổi tiếng nhất, chẳng hạn như Hunayn ibn Ishaq, có mức lương ước tính tương đương với các vận động viên chuyên nghiệp ngày nay. [16] Nhà Thông thái (House of Wisdom) là một thư viện được thành lập tại Baghdad thời Abbasid, Iraq bởi Caliph al-Mansur [17] vào năm 825 theo mô hình của học viện Jundishapur .

Sự cởi mở với những ảnh hưởng đa dạng

[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thời kỳ này, người Hồi giáo thể hiện sự quan tâm mạnh mẽ đến việc tiếp thu kiến thức khoa học của các nền văn minh đã bị chinh phục. Nhiều tác phẩm kinh điển thời cổ đại, nếu không có người Hồi giáo, có thể đã bị thất lạc. Những tác phẩm này đã được dịch từ tiếng Hy Lạp, tiếng Syriac, tiếng Ba Tư Trung đạitiếng Phạn sang tiếng Syriac và tiếng Ả Rập, một số sau đó được dịch sang các ngôn ngữ khác như tiếng Do Tháitiếng Latinh .

Bác sĩ theo đạo Thiên chúa Hunayn ibn Ishaq đã chỉ đạo việc dịch các tác phẩm này.

Các tín đồ Cơ đốc giáo, đặc biệt là những người thuộc Giáo hội Phương Đông (phái Nestorian), đã đóng góp to lớn cho nền văn minh Hồi giáo dưới triều đại UmayyadAbbasid thông qua việc dịch các tác phẩm triết học Hy Lạp và khoa học cổ đại sang tiếng Syriac và sau đó là sang tiếng Ả Rập. [18] [19] Họ cũng đóng góp nhiều cá nhân xuất sắc trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là triết học, khoa học (như Hunayn ibn Ishaq, [20] [21] Yusuf Al-Khuri, Al Himsi, [22] Qusta ibn Luqa, [23] Masawaiyh, [24] [25] Thượng phụ Eutychius, [26] và Jabril ibn Bukhtishu [27] ) và thần học. Trong một thời gian dài, nhiều ngự y của các Caliph nhà Abbasid thường là người Assyria theo đạo Cơ đốc.[28] [29] Trong số những gia đình Cơ đốc giáo nổi bật nhất phục vụ với tư cách là bác sĩ cho các caliph là dòng họ Bukhtishu . [30] [31] Trong suốt thế kỷ thứ 4 đến thế kỷ thứ 7, nhìêu công trình học thuật Cơ đốc giáo bằng tiếng Hy Lạp và tiếng Syriac đã được dịch mới hoặc đã được bảo tồn. Trong số các trung tâm học tập và truyền bá trí tuệ cổ điển nổi bật có các trường đại học Cơ đốc giáo như Trường Nisibis [32] và Trường Edessa, [33] trung tâm học tập ngoại giáo ở Harran, [34] cùng với bệnh viện và Học viện y khoa Gondishapur - nơi được coi là trung tâm trí tuệ, thần học và khoa học của Giáo hội phương Đông. [35] [36] [37] Nhiều học giả tại Nhà Thông thái (House of Wisdom) có xuất thân Cơ đốc giáo và được lãnh đạo bởi bác sĩ Cơ đốc giáo Hunayn ibn Ishaq, với sự hỗ trợ của nền y học Byzantine . Nhiều tác phẩm triết học và khoa học quan trọng nhất của thế giới cổ đại đã được dịch, bao gồm tác phẩm của Galen, Hippocrates, Plato, Aristotle, PtolemyArchimedes .

Người Ba Tư cũng chiếm một tỷ lệ đáng kể trong số các nhà khoa học đã đóng góp cho Thời kỳ Hoàng kim Hồi giáo. Theo Bernard Lewis : "Về mặt văn hóa, chính trị, và đáng chú ý nhất là về mặt tôn giáo, sự đóng góp của người Ba Tư cho nền văn minh Hồi giáo mới này có tầm quan trọng to lớn. Công trình của người Iran có thể được nhìn thấy trong mọi lĩnh vực hoạt động văn hóa, bao gồm cả thơ ca Ả Rập, trong đó các nhà thơ gốc Iran sáng tác thơ bằng tiếng Ả Rập đã có những đóng góp rất đáng kể." [38]

Trong khi trước đây ảnh hưởng văn hóa thường lan tỏa từ Baghdad ra bên ngoài, thì sau khi Đế chế Abbasid bị người Mông Cổ hủy diệt, tầm ảnh hưởng của người Ả Rập đã suy giảm. [39] IIran và Trung Á, nhờ hưởng lợi từ việc tiếp cận và giao lưu văn hóa sâu rộng hơn với Đông Á dưới sự cai trị của người Mông Cổ, đã hưng thịnh và phát triển theo những hướng đi tách biệt hơn khỏi ảnh hưởng Ả Rập, tiêu biểu là thời kỳ Phục hưng Timurid dưới triều đại Timurid.. [40]

Công nghệ mới

[sửa | sửa mã nguồn]
Một bản thảo được viết trên giấy vào thời Abbasid

Với một hệ thống chữ viết mới dễ dàng hơn cùng sự du nhập của giấy, thông tin đã được phổ cập rộng rãi đến mức, có lẽ là lần đầu tiên trong lịch sử, người ta có thể kiếm sống chỉ bằng nghề viết và bán sách. [41] Việc sử dụng giấy (paper) lan rộng từ Trung Quốc sang các khu vực Hồi giáo vào thế kỷ thứ tám thông qua sản xuất hàng loạt ở Samarkand và Khorasan, [42] đến Al-Andalus trên Bán đảo Iberia (Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha hiện đại) vào thế kỷ thứ 10. Loại giấy này dễ sản xuất hơn giấy da (parchment), ít bị nứt gãy hơn giấy cói (papyrus), và có khả năng thấm mực tốt khiến việc tẩy xóa trở nên khó khăn, do đó trở thành vật liệu lý tưởng để lưu trữ hồ sơ. [43]Các thợ làm giấy Hồi giáo đã sáng tạo ra phương pháp chép tay bản thảo theo dây chuyền để cho ra đời số lượng ấn bản lớn hơn nhiều so với bất kỳ nơi nào ở châu Âu trong suốt nhiều thế kỷ. Chính từ những quốc gia Hồi giáo mà phần còn lại của thế giới đã học được cách làm giấy từ vải lanh. [44]

Giáo dục

[sửa | sửa mã nguồn]

Tính trung tâm của thánh kinh và việc nghiên cứu kinh Quran trong truyền thống Hồi giáo đã giúp giáo dục trở thành trụ cột trung tâm của tôn giáo này ở hầu hết mọi thời đại và địa điểm trong lịch sử Hồi giáo.[45]

Việc giảng dạy có tổ chức tại Nhà thờ Hồi giáo Al-Azhar ở Cairo bắt đầu vào năm 978

Tầm quan trọng của việc học tập trong truyền thống Hồi giáo được phản ánh trong một số hadith được cho là của Muhammad, bao gồm một hadith nói rằng "Tìm kiếm kiến thức là nghĩa vụ của mọi người Hồi giáo".[45] Lệnh này được coi là áp dụng đặc biệt cho các học giả, nhưng ở một mức độ nào đó cũng áp dụng cho công chúng Hồi giáo nói chung, như được minh họa bằng câu châm ngôn của al-Zarnuji, "học tập được quy định cho tất cả chúng ta".[45] Mặc dù không thể tính toán tỷ lệ biết chữ trong các xã hội Hồi giáo tiền hiện đại, nhưng gần như chắc chắn rằng chúng tương đối cao, ít nhất là khi so sánh với các quốc gia châu Âu đương thời.[45]

Giáo dục sẽ bắt đầu từ khi còn nhỏ với việc học tiếng Ả RậpKinh Qur'an, diễn ra tại nhà hoặc tại các trường sơ cấp thường nằm ngay trong khuôn viên nhà thờ Hồi giáo.[46] Một số học sinh sau đó sẽ tiếp tục được đào tạo chuyên sâu về tafsir (chú giải Kinh Quran) và fiqh (luật học Hồi giáo), những môn học được coi là đặc biệt quan trọng.[46] Nền giáo dục này chú trọng vào việc ghi nhớ, nhưng cũng rèn luyện cho những học trò xuất sắc khả năng tham gia vào truyền thống bình chú các văn bản đã học với tư cách là những người đọc và viết thực thụ.[46] Quá trình này cũng đóng vai trò xã hội hóa các học giả tương lai—những người xuất thân từ hầu hết mọi tầng lớp xã hội—để gia nhập vào hàng ngũ ulema (giới học giả).[46]

Trong vài thế kỷ đầu của Hồi giáo, môi trường giáo dục hoàn toàn mang tính phi chính thức. Tuy nhiên, bắt đầu từ thế kỷ 11 và 12, giới cầm quyền đã bắt đầu thiết lập các thể chế giáo dục tôn giáo bậc cao được gọi là madrasa, nhằm mục đích tranh thủ sự ủng hộ và hợp tác của giới ulema [47] Các madrasa nhanh chóng phát triển mạnh mẽ trên khắp thế giới Hồi giáo, góp phần lan tỏa tri thức Hồi giáo ra ngoài các trung tâm đô thị và gắn kết các cộng đồng Hồi giáo đa dạng vào một công cuộc văn hóa chung.[47] Dẫu vậy, hoạt động giảng dạy vẫn tập trung vào mối quan hệ cá nhân giữa thầy và trò.[47] Giấy chứng nhận thành tựu học thuật chính thức, gọi là ijaza, được cấp bởi một học giả cụ thể chứ không phải bởi nhà trường. Chứng nhận này đặt người sở hữu nó vào một "phả hệ học thuật" – vốn là hệ thống tôn trật duy nhất được công nhận trong nền giáo dục này.[47] Trong khi việc học tập chính quy tại các madrasa chỉ dành cho nam giới, phụ nữ thuộc các gia đình danh gia vọng tộc ở đô thị thường được giáo dục tại gia; nhiều người trong số họ đã nhận được và sau đó tự mình cấp ijaza trong các lĩnh vực nghiên cứu hadith, thư pháp và ngâm thơ.[48] [49] Phụ nữ thuộc tầng lớp lao động tiếp thu các văn bản tôn giáo và kỹ năng thực hành chủ yếu thông qua việc truyền dạy lẫn nhau, mặc dù họ vẫn được nhận sự hướng dẫn nhất định cùng với nam giới tại các thánh đường và tư gia.[48]

Các trường madrasa chủ yếu tập trung vào nghiên cứu luật học, nhưng chúng cũng giảng dạy các môn học khác như thần học, y học và toán học.[50] [51] Khuôn viên của một madrasa thường bao gồm một nhà thờ Hồi giáo, khu nhà ở cho sinh viên nội trú và một thư viện.[50] Trường được duy trì bằng một waqf (tài sản hiến tặng vì mục đích từ thiện), nguồn quỹ này dùng để chi trả lương cho giáo sư, học bổng cho sinh viên và trang trải chi phí xây dựng, bảo trì.[50] Tuy nhiên, madrasa không giống một trường đại học hiện đại ở chỗ nó thiếu chương trình giảng dạy tiêu chuẩn hóa hay hệ thống cấp chứng chỉ chính thức.[50]

Người Hồi giáo phân biệt các môn học thừa hưởng từ các nền văn minh tiền Hồi giáo—chẳng hạn như triết học và y học, được họ gọi là "khoa học của người xưa" hay "khoa học duy lý"—với các khoa học tôn giáo Hồi giáo.[52] Khoa học duy lý đã phát triển rực rỡ trong nhiều thế kỷ, và việc truyền bá chúng đã trở thành một phần của khuôn khổ giáo dục trong thời kỳ Hồi giáo cổ điển và trung đại.[52] Trong một số trường hợp, chúng được hỗ trợ bởi các tổ chức như Nhà Thông thái (House of Wisdom) ở Baghdad, nhưng thông thường, chúng được truyền đạt một cách phi chính thức từ thầy sang trò.[52]

Đại học Al Karaouine, được thành lập vào năm 859 sau Công nguyên, được Sách Kỷ lục Guinness ghi nhận là trường đại học có cấp bằng lâu đời nhất thế giới.[53] Đại học Al-Azhar là một trường madrasa thời kì đầu khác hiện được công nhận là một trường đại học. Trường madrasa này là một trong những di tích của vương triều Fatimid . Người Fatimid truy tìm nguồn gốc của họ từ con gái của Muhammad là Fatimah và đặt tên cho tổ chứ giáo dục này bằng cách sử dụng một biến thể của danh hiệu tôn kính của bà là Al-Zahra (người thông minh). [54] Việc giảng dạy có tổ chức tại Nhà thờ Hồi giáo Al-Azhar bắt đầu vào năm 978. [55] Tiếng Ả Rập trở thành ngôn ngữ thương mại. Thủ đô Córdoba của Tây Ban Nha do người Hồi giáo cai trị, đã vượt qua Constantinople [56] [57] trở thành thành phố lớn nhất châu Âu, Córdoba cũng trở thành một trung tâm giáo dục và học tập hàng đầu thế giới, sản sinh ra nhiều nhà bác học.

Triết học

[sửa | sửa mã nguồn]

Ibn Sina (Avicenna) và Ibn Rushd (Averroes) đã đóng vai trò then chốt trong việc diễn giải các tác phẩm của Aristotle - người sở hữu những tư tưởng chi phối đời sống tinh thần phi tôn giáo của cả thế giới Cơ đốc giáo lẫn Hồi giáo. Theo Bách khoa toàn thư Triết học Stanford, việc chuyển ngữ các văn bản triết học từ tiếng Ả Rập sang tiếng Latinh tại Tây Âu "đã dẫn đến cuộc chuyển mình của hầu hết các bộ môn triết học trong thế giới Latinh thời Trung cổ".[58] Tầm ảnh hưởng của các triết gia Hồi giáo tại châu Âu đặc biệt mạnh mẽ trong lĩnh vực triết học tự nhiên, tâm lý học và siêu hình học, đồng thời cũng tác động đến cả logic học và đạo đức học.[59]

Siêu hình học

[sửa | sửa mã nguồn]

Ibn Sina đã đưa ra lập luận thông qua thí nghiệm tư duy nổi tiếng mang tên "Người lơ lửng" (Floating man) để bàn về sự tự nhận thức. Trong thí nghiệm này, ông cho rằng một người dù bị bịt mắt, thả rơi tự do và hoàn toàn bị tước bỏ mọi trải nghiệm giác quan, thì vẫn sẽ nhận thức được sự tồn tại của chính mình. [60]

Tri thức luận

[sửa | sửa mã nguồn]

Trong lĩnh vực tri thức luận, Ibn Tufail đã viết cuốn tiểu thuyết Hayy ibn Yaqdhan, và để phản biện lại, Ibn al-Nafis đã cho ra đời tác phẩm Theologus Autodidactus. Cả hai tác phẩm đều xoay quanh chủ đề tự lĩnh hội tri thức (autodidacticism), được làm sáng tỏ qua cuộc đời của một đứa trẻ hoang dã được sinh ra một cách tự nhiên trong hang động trên một hòn đảo hoang vắng.

Thần học

[sửa | sửa mã nguồn]

Thần học Hồi giáo cổ điển hình thành từ những tranh luận giáo lý thời kỳ đầu. Đó là cuộc đối đầu gay gắt giữa phong trào ahl al-hadith (do Ahmad ibn Hanbal dẫn đầu)—vốn coi Kinh Quran và các lời dạy (Hadith) chính thống là thẩm quyền duy nhất về đức tin—với phái Mu'tazila cùng các dòng tư tưởng khác, những người chủ trương xây dựng giáo lý dựa trên các phương pháp luận duy lý.. [61] Năm 833, Caliph al-Ma'mun đã cố gắng áp đặt thần học Mu'tazila lên tất cả các học giả tôn giáo và thiết lập một cuộc thanh trừng (mihna), nhưng những nỗ lực sử dụng sắc lệnh của Caliph để áp đặt sự chính thống tôn giáo rốt cuộc đã thất bại. [61] Cuộc tranh cãi này dai dẳng cho đến khi al-Ash'ari (874–936) tìm ra con đường trung đạo giữa chủ nghĩa duy lý Mu'tazila và chủ nghĩa nguyên văn của Hanbal, sử dụng chính các phương pháp duy lý mà phái Mu'tazila đề cao để biện hộ cho hầu hết các tín điều cốt lõi được ahl al-hadith gìn giữ. [62] Một sự thỏa hiệp đối địch giữa chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa nguyên văn đã xuất hiện từ tác phẩm của al-Maturidi (dc 944), và mặc dù một số ít học giả vẫn trung thành với tín điều ahl al-hadith ban đầu, thần học Ash'ari và Maturidi đã thống trị Hồi giáo Sunni từ thế kỷ thứ 10 trở đi. [62] [63]

Luật pháp

[sửa | sửa mã nguồn]

Tư tưởng pháp lý dần phát triển trong các nhóm học thuật, nơi các học giả độc lập gặp gỡ để thụ giáo một bậc thầy tại địa phương và thảo luận về các chủ đề tôn giáo. [64] [65] Ban đầu, thành phần tham gia các nhóm này thường xuyên thay đổi, nhưng theo thời gian, các trường phái luật địa phương riêng biệt đã định hình rõ nét xoay quanh những bộ nguyên tắc phương pháp luận chung. [65] [66] Khi ranh giới giữa các trường phái được phân định rạch ròi, thẩm quyền về các nguyên tắc học thuyết của họ được quy về một bậc thầy luật học lỗi lạc thời trước, người từ đó được tôn là tổ sư của trường phái. [65] [66] Trong suốt ba thế kỷ đầu của Hồi giáo, tất cả các trường phái luật đều đi đến thống nhất chấp nhận những khuôn khổ chung của lý thuyết pháp lý cổ điển, theo đó luật Hồi giáo phải bắt rễ vững chắc từ Kinh Quran và hadith [66] [67]

Lý thuyết pháp lý Hồi giáo cổ điển giải thích cách thức diễn giải kinh sách từ góc độ ngôn ngữ học và tu từ học. [68] Nó cũng bao gồm các phương pháp thẩm định tính xác thực của hadith và xác định khi nào hiệu lực pháp lý của một đoạn kinh văn bị bãi bỏ bởi một đoạn được mặc khải muộn hơn.[68] Ngoài Kinh Quran và Sunnah, lý thuyết cổ điển của luật học (fiqh) Sunni công nhận hai nguồn luật khác: sự đồng thuận của giới luật học (ijmaʿ) và phép suy luận tương tự (qiyas). [69] Do đó, nó nghiên cứu việc áp dụng và các giới hạn của phép tương tự, cũng như giá trị và giới hạn của sự đồng thuận, cùng với các nguyên tắc phương pháp luận khác mà một số chỉ được chấp nhận bởi vài trường phái luật nhất định.[68] Toàn bộ hệ thống công cụ diễn giải này được tập hợp dưới phạm trù ijtihad, ám chỉ sự nỗ lực trí tuệ của một luật gia nhằm đưa ra phán quyết về một vấn đề cụ thể.[68]Lý thuyết luật học của phái Shia Mười hai Imam (Twelver Shia) có nhiều điểm tương đồng với các trường phái Sunni nhưng vẫn tồn tại một số khác biệt, chẳng hạn như việc công nhận lý trí (ʿaql) là một nguồn luật thay thế cho qiyas, và mở rộng khái niệm Sunnah để bao gồm cả các truyền thống của các Imam.[70]

Hệ thống luật nội dung của Hồi giáo được xây dựng bởi các luật gia độc lập (các mufti). Những ý kiến pháp lý (fatwa) của họ được tham chiếu bởi các thẩm phán do người cai trị bổ nhiệm – những người chủ trì các tòa án qadi, cũng như bởi các tòa án maẓālim – nơi chịu sự kiểm soát của hội đồng cai trị và chuyên thực thi luật hình sự.[66] [68]

Toán học

[sửa | sửa mã nguồn]

Đại số

[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà toán học Ba Tư Muḥammad ibn Mūsā al-Khwārizmī đã đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của đại số, số họcchữ số Hindu-Ả Rập . Ông được tôn vinh là cha đẻ [71] [72] hoặc người sáng lập [73] [74] của bộ môn đại số.

Một nhà toán học Ba Tư khác, Omar Khayyam, được ghi nhận là người đặt nền móng cho hình học giải tích. Omar Khayyam đã tìm ra lời giải hình học tổng quát cho phương trình bậc ba. Cuốn sách Luận về các Chứng minh cho những Vấn đề Đại số (1070) của ông là một bước tiến quan trọng trong sự phát triển của đại số, và là một phần của kho tàng toán học Ba Tư sau này được truyền sang châu Âu.[75]

Một nhà toán học Ba Tư khác nữa là Sharaf al-Dīn al-Tūsī đã tìm ra các lời giải đại số và số học cho nhiều trường hợp khác nhau của phương trình bậc ba [76] Ông cũng chính là người đã phát triển khái niệm về hàm số.[77]

Vi tích phân

[sửa | sửa mã nguồn]

Ibn al-Haytham (Alhazen) đã phát hiện ra công thức tính tổng các lũy thừa bậc bốn, bằng cách sử dụng một phương pháp có thể áp dụng tổng quát để xác định tổng của bất kỳ lũy thừa số nguyên nào. Ông đã vận dụng điều này để tính thể tích của khối paraboloid. Ông có khả năng tìm ra công thức tích phân cho bất kỳ đa thức nào dù chưa phát triển một công thức tổng quát hoàn chỉnh [như trong giải tích hiện đại].[78]

Hình học

[sửa | sửa mã nguồn]

Nghệ thuật Hồi giáo tận dụng triệt để các họa tiết hình học và tính đối xứng trong nhiều loại hình nghệ thuật, đặc biệt là trong nghệ thuật lát gạch girih. Loại hình này được tạo thành từ một bộ gồm năm hình dạng gạch: thập giác đều, lục giác thuôn dài, hình nơ, hình thoi và ngũ giác đều. Tất cả các cạnh của những viên gạch này đều có cùng độ dài; và mọi góc của chúng đều là bội số của 36° (π/5 radian), mang lại tính đối xứng bậc 5 và bậc 10. Bề mặt gạch được trang trí bằng các đường viền đan xen (gọi là girih), các đường này thường nổi bật và dễ thấy hơn cả đường biên của chính viên gạch.

Vào năm 2007, các nhà vật lý Peter LuPaul Steinhardt lập luận rằng họa tiết girih từ thế kỷ 15 có nét tương đồng với các cấu trúc lát gạch Penrose giả tinh thể.[79][80][81][82] Nghệ thuật gạch men hình học zellige tinh xảo là một yếu tố đặc trưng trong kiến trúc Morocco.[83]

Các mái vòm Muqarnas là cấu trúc ba chiều nhưng lại được thiết kế trên mặt phẳng hai chiều thông qua các bản vẽ của những ô hình học.

Lượng giác

[sửa | sửa mã nguồn]

Ibn Muʿādh al-Jayyānī là một trong số các nhà toán học Hồi giáo được ghi nhận là người tìm ra định lý sin; ông đã viết tác phẩm "Cuốn sách về những Cung ẩn của Hình cầu" (The Book of Unknown Arcs of a Sphere) vào thế kỷ 11. Công thức này thiết lập mối liên hệ giữa độ dài các cạnh của bất kỳ tam giác nào (không chỉ giới hạn trong tam giác vuông) với sin của các góc tương ứng.[84] Công thức:

(trong đó a, bc là độ dài các cạnh của một tam giác, và A, BC là các góc đối diện )

Đóng góp của Al-Jayyānī và các nhà toán học Hồi giáo là đã tách lượng giác ra khỏi thiên văn học để trở thành một môn toán học độc lập, áp dụng cho bất kỳ tam giác nào (tam giác thường), giải phóng toán học khỏi sự ràng buộc phải luôn dùng tam giác vuông. Tiêu đề cuốn sách "Cung ẩn của Hình cầu" cho thấy Al-Jayyānī không chỉ nghiên cứu tam giác trên mặt phẳng (tam giác phẳng) mà còn nghiên cứu tam giác cầu (tam giác vẽ trên bề mặt hình cầu). Điều này cực kỳ quan trọng đối với thiên văn học Hồi giáo để xác định hướng cầu nguyện (Qibla) về Mecca từ bất kỳ đâu trên Trái Đất.

Thống kê

[sửa | sửa mã nguồn]

Việc ứng dụng suy diễn thống kê sớm nhất trong lịch sử được thực hiện bởi Al-Kindi (khoảng 801–873, còn được châu Âu biết đến với tên gọi "Alkindus"), trong tác phẩm Risalah fi Istikhraj al-Mu'amma (Bản thảo về Giải mã Mật thư). Tác phẩm này chứa đựng mô tả đầu tiên về phương pháp phân tích tần suất. [85][86] Al-Kindi là một người khổng lồ trong lịch sử tri thức, được coi là cha đẻ của triết học Hồi giáo. Ngoài mật mã học, ông còn có công lớn trong việc đưa hệ thống chữ số Ấn Độ (0-9) vào thế giới Hồi giáo và phương Tây.

Khoa học tự nhiên

[sửa | sửa mã nguồn]

Phương pháp khoa học

[sửa | sửa mã nguồn]

Ibn al-Haytham (Alhazen) là một nhân vật tầm cỡ trong lịch sử phương pháp luận khoa học, đặc biệt là trong cách tiếp cận của ông đối với thực nghiệm,[87][88][89][90] và ông từng được mô tả là "nhà khoa học đích thực đầu tiên trên thế giới".[91]

Avicenna đã thiết lập các quy tắc để thử nghiệm tính hiệu quả của dược phẩm, trong đó bao gồm nguyên tắc rằng tác dụng của loại thuốc đang thử nghiệm phải xuất hiện một cách nhất quán hoặc qua nhiều lần lặp lại thì mới được công nhận.[92]

Bác sĩ Rhazes là người tiên phong ủng hộ y học thực nghiệm và khuyến nghị sử dụng nhóm đối chứng trong nghiên cứu lâm sàng. Ông nói: "Nếu bạn muốn nghiên cứu tác dụng của liệu pháp trích máu đối với một bệnh trạng nào đó, hãy chia bệnh nhân thành hai nhóm, chỉ thực hiện trích máu cho một nhóm, theo dõi cả hai, rồi so sánh kết quả."[93]

Thiên văn học

[sửa | sửa mã nguồn]
Thước trắc tinh có khắc chữ Quran từ Iran, niên đại 1060 AH (1650-51 CN)

Thiên văn học Hồi giáo đã có thể phát triển mạnh mẽ nhờ vào một số yếu tố then chốt. Một trong số đó là yếu tố địa lý: thế giới Hồi giáo nằm gần các vùng đất cổ xưa của người Hy Lạp, nơi lưu giữ những tri thức quý giá về bầu trời trong các bản thảo tiếng Hy Lạp.[94] Dưới triều đại Abbasid mới, sau khi dời đô về Baghdad vào năm 762 CN, các dịch giả đã được bảo trợ để chuyển ngữ các văn bản Hy Lạp sang tiếng Ả Rập.[95]Phong trào dịch thuật này đã đưa các công trình khoa học vĩ đại của Galen, Ptolemy, Aristotle, Euclid, ArchimedesApollonius vào thế giới Ả Rập.[96] Từ những bản dịch này, những kiến thức về vũ trụ từng bị thất lạc nay được sử dụng để thúc đẩy các nhà tư tưởng thiên văn đương thời.

Yếu tố then chốt thứ hai giúp thiên văn học phát triển chính là các nghi thức tôn giáo mà người Hồi giáo tuân thủ, đòi hỏi họ phải cầu nguyện vào những thời điểm chính xác trong ngày.[97]Những yêu cầu về đo đếm thời gian này đã dẫn đến nhiều vấn đề cần giải quyết đối với nền thiên văn toán học Hy Lạp trước đó, đặc biệt là về phương pháp tính giờ.[98]

Thước trắc tinh vốn là một phát minh của người Hy Lạp nhưng lại trở thành một công cụ quan trọng của thiên văn học Ả Rập. Đây là một mô hình bầu trời hai chiều cầm tay, có thể giải quyết các bài toán của thiên văn học cầu.[99] Nó được cấu tạo bởi các đường độ cao và phương vị (azimuth) cùng với một kim chỉ vị trí, đường chân trời, vòng tròn giờ, thiên đỉnh (zenith), mạng sao (Rete), kim chỉ sao và đường xích đạo để hiển thị chính xác vị trí của các ngôi sao tại thời điểm đó.[99]Cách sử dụng thước trắc tinh được trình bày xuất sắc nhất trong chuyên luận của Al-Farghani, nhờ vào phương pháp toán học mà ông áp dụng công cụ này vào chiêm tinh học, thiên văn học và đo đếm thời gian.[100] Chiếc thước trắc tinh cổ xưa nhất còn tồn tại đến ngày nay có nguồn gốc từ thời kỳ Hồi giáo. Nó được chế tác bởi Nastulus vào năm 927-28 CN và hiện là một báu vật của Bảo tàng Quốc gia Kuwait.[101]

Vào khoảng năm 964 CN, trong tác phẩm Sách về các Ngôi sao Cố định (Book of Fixed Stars), nhà thiên văn học người Ba Tư Abd al-Rahman al-Sufi đã mô tả một "đốm mây mù" trong chòm sao Tiên Nữ. Đây là tài liệu đầu tiên xác định rõ ràng về cái mà ngày nay chúng ta biết là Thiên hà Andromeda, thiên hà xoắn ốc gần Dải Ngân hà nhất.

Tên gọi của một số ngôi sao, như Betelgeuse, Rigel, Vega, AldebaranFomalhaut, là những cái tên bắt nguồn trực tiếp từ tiếng Ả Rập hoặc là bản dịch của người Ả Rập từ các mô tả bằng tiếng Hy Lạp của Ptolemy; và những cái tên này vẫn được sử dụng rộng rãi cho đến ngày nay.[102]

Alhazen đã đóng vai trò then chốt trong sự phát triển của ngành quang học. Tại thời đại và vùng đất ông sinh sống, có hai lý thuyết về thị giác đang thịnh hành: một là thuyết phát xạ được EuclidPtolemy ủng hộ, cho rằng cơ chế nhìn hoạt động là do mắt phát ra các tia sáng; hai là thuyết của Aristotle, quan niệm rằng thị giác hình thành khi "bản thể" của sự vật truyền vào trong mắt. Tuy nhiên, Alhazen đã đưa ra lập luận chính xác rằng chúng ta nhìn thấy được là do ánh sáng di chuyển theo đường thẳng, phản xạ từ bề mặt vật thể rồi đi vào mắt.

Bên cạnh đó, Al-Biruni cũng viết về những kiến giải sâu sắc của mình đối với ánh sáng, ông khẳng định rằng vận tốc của ánh sáng phải là vô cùng lớn nếu so sánh với tốc độ âm thanh.[103] Đây là một tư duy cực kỳ đi trước thời đại. Phải đến thế kỷ 17 (Galileo và Rømer), châu Âu mới bắt đầu đo đạc được một cách khoa học.

Hóa học

[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kỳ đầu của Hồi giáo đã chứng kiến sự ra đời của những khuôn khổ lý thuyết bền vững nhất trong lịch sử giả kim thuậthóa học. Thuyết lưu huỳnh - thủy ngân về kim loại, xuất hiện lần đầu trong tác phẩm Sirr al-khalīqa ("Bí mật của Sự Sáng tạo", khoảng 750–850) của tác giả ngụy tác Apollonius xứ Tyana và trong các văn bản tiếng Ả Rập được cho là của Jābir ibn Ḥayyān (viết khoảng 850–950), đã trở thành nền tảng cho mọi lý thuyết về cấu tạo kim loại mãi cho đến thế kỷ 18.[104]

Tương tự như vậy, Phiến Lục bảo – một văn bản ngắn gọn nhưng đầy bí ẩn mà mọi nhà giả kim đời sau, bao gồm cả Isaac Newton (1642–1727), đều tôn sùng là nền tảng cho bộ môn nghệ thuật của họ – cũng đã xuất hiện lần đầu trong Sirr al-khalīqa và trong một tác phẩm khác được gán cho Jābir.[105]

Hóa học thực hành cũng đạt được những bước tiến đáng kể. Các tác phẩm được cho là của Jābir, cùng với các công trình của nhà giả kim kiêm y sĩ người Ba Tư Abū Bakr al-Rāzī (khoảng 865–925), chứa đựng những hệ thống phân loại hóa chất bài bản sớm nhất từng được biết đến.[106] Tuy nhiên, các nhà giả kim không chỉ hứng thú với việc nhận diện và phân loại hóa chất, mà còn quan tâm đến việc tổng hợp nhân tạo chúng.[107] Những ví dụ tiêu biểu từ thế giới Hồi giáo trung đại bao gồm việc tổng hợp amoni clorua từ các chất hữu cơ như được mô tả trong các tác phẩm của Jābir,[108] và các thí nghiệm với phèn của Abū Bakr al-Rāzī. Những thí nghiệm này về sau đã dẫn lối cho các nhà giả kim Latin thế kỷ 13 tìm ra các axit vô cơ mạnh như axit sulfuricaxit nitric.[109]

Trắc địa

[sửa | sửa mã nguồn]

Al-Biruni (973–1050) đã tính toán bán kính Trái Đất là 6.339,6 km (giá trị hiện đại là khoảng 6.371 km). Đây là con số ước tính chính xác nhất vào thời điểm bấy giờ.[110]

Sinh học

[sửa | sửa mã nguồn]

Các nhà bình luận hiện đại đã so sánh những ghi chép của các học giả Hồi giáo thời trung cổ về "cuộc đấu tranh sinh tồn" trong giới động vật với khuôn khổ của thuyết tiến hóa. Cụ thể, trong công trình khảo cứu về lịch sử các tư tưởng dẫn đến thuyết chọn lọc tự nhiên, Conway Zirkle ghi nhận rằng Al-Jahiz là một trong những người đã bàn luận về "cuộc đấu tranh sinh tồn" trong tác phẩm Kitāb al-Hayawān (Sách về Động vật), được viết vào thế kỷ thứ 9.[111]

Vào thế kỷ 13, Nasir al-Din al-Tusi tin rằng con người có nguồn gốc từ các loài động vật bậc cao.[112] Năm 1377, Ibn Khaldun trong tác phẩm Muqaddimah (Lời nói đầu) đã viết: "Giới động vật phát triển, các loài sinh sôi, và trong quá trình Sáng tạo tuần tự đó, nó kết thúc ở con người và nảy sinh từ thế giới của loài khỉ."[113]

Về lĩnh vực di truyền học, Al-Zahrawi là bác sĩ đầu tiên xác định được bản chất di truyền của bệnh máu khó đông.[114]

Y học và giải phẫu

[sửa | sửa mã nguồn]
Cấu tạo của mắt theo mô tả của Hunayn ibn Ishaq. Hình ảnh được trích từ một bản thảo có niên đại khoảng năm 1200.

Đối với các học giả Hồi giáo, những y sĩ và nhà nghiên cứu y học từ Ấn ĐộHy Lạp như Sushruta, Galen, Mankah, Atreya, Hippocrates, CharakaAgnivesha luôn được xem là những tượng đài lỗi lạc.[115] Để di sản của truyền thống Ấn Độ và Hy Lạp trở nên dễ tiếp cận, dễ hiểu và dễ truyền thụ hơn, các học giả Hồi giáo đã sắp xếp và hệ thống hóa kho tàng kiến thức y học khổng lồ này bằng cách biên soạn các bộ bách khoa thư và các bản tóm lược. Tuy nhiên, tinh thần học thuật của họ không phải là sự sao chép mù quáng. Đôi khi, các học giả tiền bối cũng bị phê phán. Điển hình như Rhazes – người đã phản bác và chỉ trích những lý thuyết vốn được tôn sùng của Galen, nổi bật nhất là Thuyết thể dịch (Theory of Humors), và vì hành động này mà ông từng bị cáo buộc là thiếu hiểu biết.[116]Chính thông qua các bản dịch tiếng Ả Rập vào thế kỷ 12, châu Âu thời Trung cổ đã tái khám phá nền y học Hy Lạp (bao gồm các tác phẩm của GalenHippocrates) cũng như lần đầu tiếp cận y học cổ đại Ấn Độ (như các tác phẩm của SushrutaCharaka).[117][118] Những kiệt tác như cuốn "Quy chuẩn Y học" (The Canon of Medicine) của Avicenna đã được dịch sang tiếng Latinh và lan truyền rộng rãi khắp châu Âu. Chỉ riêng trong thế kỷ 15 và 16, cuốn sách này đã được tái bản hơn 35 lần và được sử dụng làm giáo trình y khoa chuẩn mực cho đến tận thế kỷ 18.[119] Lý thuyết thống trị thời bấy giờ là Thuyết Thể dịch. Thuyết này quan niệm rằng sức khỏethân nhiệt tự nhiên phụ thuộc vào sự cân bằng của bốn loại "thể dịch" riêng biệt (máu, đờm, mật vàngmật đen). Trong cuốn "Nghi vấn về Galen" (Al Shakook ala Jalinoos), al-Razi đã chỉ trích một số lý thuyết của Galen, đặc biệt là Thuyết Thể dịch, vì cho rằng chúng mâu thuẫn với các quan sát lâm sàng thực tế của ông.[120]

Một bước tiến khác đến từ y sĩ người Ả Rập Ibn Zuhr. Ông đã chứng minh bệnh ghẻ là do con cái ghẻ gây ra và có thể chữa khỏi bằng cách loại bỏ ký sinh trùng này mà không cần dùng đến các phương pháp tẩy xổ hay trích máu như Thuyết Thể dịch yêu cầu. Đây là một sự thoát ly táo bạo khỏi quan điểm truyền thống của GalenAvicenna.[121]

Về hệ tim mạch, trong tác phẩm "Bình giải về Giải phẫu học trong bộ Quy chuẩn của Avicenna", Ibn al-Nafis là học giả đầu tiên được biết đến đã phản bác quan điểm của trường phái Galen cho rằng máu có thể đi từ tâm thất này sang tâm thất kia qua vách liên thất. Ông khẳng định tại vị trí này không có lối thông nào cả.[122] Thay vào đó, ông lập luận chính xác rằng toàn bộ lượng máu muốn đến được tâm thất trái đều phải đi qua phổi.[123]Ông cũng tuyên bố rằng phải có những đường thông nhỏ, hay các lỗ li ti, nối giữa động mạch phổitĩnh mạch phổi – một dự đoán đi trước phát hiện của Marcello Malpighi về mao mạch phổi tới 400 năm. Tác phẩm "Bình giải về Giải phẫu học trong bộ Quy chuẩn của Avicenna" này mãi đến thế kỷ 20 mới được tìm thấy tại Thư viện Quốc gia PhổBerlin; tuy nhiên, hiện vẫn chưa rõ liệu quan điểm đi trước thời đại của ông về tuần hoàn phổi có ảnh hưởng đến các nhà khoa học phương Tây sau này như Michael Servetus hay không.[124]

Trong lĩnh vực thần kinh học, Rhazes khẳng định các dây thần kinh đảm nhận chức năng vận động hoặc cảm giác, đồng thời mô tả chi tiết 7 đôi dây thần kinh sọ cùng 31 đôi dây thần kinh tủy sống. Ông đã sắp xếp thứ tự các dây thần kinh sọ từ dây thị giác đến dây hạ thiệt, cũng như phân loại dây thần kinh tủy sống thành 8 đôi cổ, 12 đôi ngực, 5 đôi thắt lưng, 3 đôi cùng và 3 đôi cụt. Chính hệ thống phân loại này đã giúp ông liên kết các dấu hiệu lâm sàng của chấn thương với vị trí tổn thương cụ thể trong hệ thần kinh.[125]

Trong lĩnh vực bệnh truyền nhiễm, thông qua sự quan sát tỉ mỉ, Rhazes đã phân biệt rạch ròi hai căn bệnh đậu mùasởi – vốn trước đó thường bị gộp chung là một bệnh duy nhất gây ra chứng phát ban.[126] Sự phân biệt này dựa trên vị trí và thời điểm xuất hiện các triệu chứng; ông còn đánh giá mức độ nghiêm trọng và tiên lượng bệnh dựa theo màu sắc và vị trí của vết ban. Liên quan đến vệ sinh dịch tễ, từng có giai thoại kể rằng khi được giao nhiệm vụ chọn địa điểm xây bệnh viện mới ở Baghdad, Rhazes đã treo các miếng thịt tại nhiều điểm quanh thành phố và khuyến nghị xây dựng tại nơi mà miếng thịt bị thối rữa chậm nhất.[127]

Đối với các chuyên khoa khác, y học Hồi giáo cũng đạt được những bước tiến lớn. Trong sản phụ khoa, Al-Zahrawi là y sĩ đầu tiên mô tả hiện tượng mang thai ngoài tử cung.[128] Trong khi đó ở lĩnh vực nhi khoa, Al-Razi đôi khi được tôn vinh là "Cha đẻ của Nhi khoa" với tác phẩm chuyên khảo Các bệnh ở Trẻ em, trong tác phẩm này ông coi Nhi khoa một chuyên ngành y học độc lập.[129]

Đặc biệt trong ngoại khoa, y sĩ người Ả Rập thế kỷ thứ 10 Al-Zahrawi thường được mệnh danh là "Cha đẻ của phẫu thuật". Ông chính là người tiên phong mô tả kỹ thuật thu gọn ngực nhằm điều trị chứng phì đại tuyến vú ở nam giới,[130] cũng là người đã thực hiện ca phẫu thuật cắt bỏ vú đầu tiên để điều trị ung thư[131] cũng như ca cắt bỏ tuyến giáp đầu tiên trong lịch sử.[132] Di sản ông để lại bao gồm ba cuốn sách giáo khoa, trong đó cuốn Sổ tay của Người hành nghề Y chứa danh mục minh họa tới 278 dụng cụ phẫu thuật. Đến thế kỷ 13, truyền thống này được tiếp nối bởi Ibn al-Quff, một y sĩ kiêm phẫu thuật viên đã xuất bản nhiều sách và luận văn quan trọng. Nổi bật nhất là cuốn Những điều Căn bản trong Nghệ thuật Phẫu thuật, một cuốn cẩm nang y học tổng quát bao trùm từ giải phẫu, dược lý đến chăm sóc ngoại khoa, được xem là văn bản tiếng Ả Rập đồ sộ nhất về phẫu thuật trong suốt thời kỳ Trung cổ.[133]

Kỹ thuật

[sửa | sửa mã nguồn]

Trong cuốn Sách về các Thiết bị Tinh xảo (Book of Ingenious Devices) ra đời vào thế kỷ thứ 9, ba anh em nhà Banū Mūsā đã mô tả một chiếc máy thổi sáo tự động, và đây có thể coi là cỗ máy có khả năng lập trình đầu tiên trong lịch sử.[134] Âm thanh của sáo được tạo ra nhờ hơi nước nóng, và người sử dụng có thể điều chỉnh thiết bị theo nhiều chế độ khác nhau để tạo ra các giai điệu đa dạng.[135] Ba anh em này đã có những đóng góp to lớn cho Nhà Thông thái (House of Wisdom), tổ chức nghiên cứu lừng danh được thành lập bởi Đế chế Abbasid.

Đến thế kỷ 12, học giả kiêm nhà phát minh Ismail al-Jazari đã mô tả trong các tác phẩm của mình vô số thiết bị cơ khí, các ý tưởng về tự động hóa và phương pháp chế tạo, trong đó nổi tiếng nhất là chiếc Đồng hồ Voi. Nó là một chiếc đồng hồ nước khổng lồ hình con voi chở một cái tháp trên lưng. Đây là một kiệt tác của kỹ thuật tự động hóa cổ đại.

Đến cuối thế kỷ 16, dưới thời Ottoman, Taqi ad-Din Muhammad đã viết về một cơ chế vận hành bằng ứng dụng của năng lượng hơi nước. Ông mô tả một thanh xiên nướng thịt tự xoay; nó chuyển động nhờ luồng hơi nước được dẫn hướng vào các cánh quạt của cơ chế, từ đó làm quay bánh xe gắn ở cuối trục xoay.[136] Công nghệ này chính là một phần quan trọng trong sự phát triển của tua-bin hơi nước sau này.[137]

Cũng trong giai đoạn này, hệ thống dẫn nước (thủy lộ) từ thời La Mã vẫn được sử dụng và mở rộng quy mô. Bắt đầu từ thế kỷ 9 và 10, nông dân người Ả Rập và người Moor đã bắt tay vào khôi phục những đường dẫn nước bị hư hại. Không những thế, họ còn cải tiến chúng bằng cách tùy biến công nghệ sao cho phù hợp với đặc thù địa hình của từng vùng.[138]

Khoa học xã hội

[sửa | sửa mã nguồn]

Ibn Khaldun được tôn vinh là một trong những cha đẻ của các ngành xã hội học, sử học, nhân khẩu học, và kinh tế học hiện đại.[139]

Trong thế giới Hồi giáo thời kỳ này, công tác lưu trữ là một vị trí rất được trọng vọng, mặc dù phần lớn các văn bản hành chính đã bị thất lạc theo dòng thời gian. Tuy nhiên, qua những thư từ và tài liệu còn sót lại, ta vẫn có thể hình dung được phần nào bối cảnh xã hội đương thời, cũng như thấy được sự chi tiết và quy mô đồ sộ của hệ thống lưu trữ thuở ấy. Mọi thư từ được gửi đi hay nhận về nhân danh các cơ quan chính quyền đều được sao lục, lưu trữ và ghi chú cẩn thận để phân loại hồ sơ. Vị trí của người phụ trách lưu trữ được xem là một công việc đòi hỏi sự tận tụy cao độ, bởi họ chính là những người nắm giữ biên bản của mọi công vụ thiết yếu.[140]

Bệnh viện

[sửa | sửa mã nguồn]

Bệnh viện Hồi giáo đầu tiên được ghi nhận đã được xây dựng tại Baghdad vào năm 805 theo sắc lệnh của Harun Al-Rashid; tuy nhiên, bệnh viện quan trọng nhất tại thành phố này lại được thành lập vào năm 982 bởi vị thủ lĩnh triều đại Buyid'Adud al-Dawla.[141] Những bệnh viện Hồi giáo sơ khai có tư liệu ghi chép đầy đủ nhất chính là các cơ sở quy mô lớn tại vùng SyriaAi Cập trong thế kỷ 12 và 13.[142] Đến thế kỷ 10, Baghdad đã có thêm 5 bệnh viện. Trong khi đó, Damascus sở hữu 6 bệnh viện vào thế kỷ 15, và riêng tại Córdoba đã hiện diện tới 50 bệnh viện lớn, trong đó nhiều bệnh viện được dành riêng cho quân đội.[143]

Một bệnh viện tiêu chuẩn thường được chia thành các khoa như bệnh học hệ thống, phẫu thuật và chấn thương chỉnh hình, còn các bệnh viện lớn hơn sẽ có các chuyên khoa đa dạng hơn nữa. Khoa "bệnh học hệ thống" tương đương với khoa Nội ngày nay, được chia nhỏ thành các phân khoa chuyên biệt như sốt, bệnh truyền nhiễm và các bệnh lý tiêu hóa. Mỗi khoa đều vận hành dưới sự chỉ đạo của một trưởng khoa, một quản lý viên và một chuyên gia giám sát. Không chỉ là nơi khám chữa bệnh, khuôn viên bệnh viện còn có cả giảng đường và thư viện phục vụ nghiên cứu. Bộ máy nhân sự cũng rất hoàn thiện, bao gồm các thanh tra vệ sinh chịu trách nhiệm đảm bảo tiêu chuẩn sạch sẽ, bên cạnh đội ngũ kế toán và các nhân viên hành chính khác.[144]

Bộ máy lãnh đạo bệnh viện thường là một hội đồng ba người, bao gồm: một nhà quản trị không thuộc chuyên môn y tế; một dược sĩ trưởng (được gọi là shaykh saydalani); và một y sĩ trưởng giữ vai trò như viện trưởng (mutwalli), người có cấp bậc ngang hàng với dược sĩ trưởng.[145] Theo truyền thống, các cơ sở y tế thường đóng cửa vào ban đêm; tuy nhiên đến thế kỷ 10, luật pháp đã quy định các bệnh viện phải hoạt động suốt 24 giờ một ngày.[146] Đối với các ca bệnh nhẹ, các y sĩ sẽ tiếp nhận tại những phòng khám ngoại trú. Các thành phố cũng thiết lập những trạm sơ cứu có y sĩ túc trực để xử lý các ca cấp cứu; những trạm này thường được đặt tại các khu vực công cộng sầm uất, chẳng hạn như nơi tụ tập đông người trong các buổi cầu nguyện ngày thứ Sáu. Khu vực này còn triển khai các đơn vị y tế lưu động với đầy đủ bác sĩ và dược sĩ nhằm đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của các cộng đồng ở vùng sâu vùng xa.

Ngay từ đầu thế kỷ 10, Baghdad đã nổi danh với việc thiết lập một bệnh viện biệt lập dành cho tù nhân. Chủ trương này được thực thi sau khi Tể tướng 'Ali ibn Isa ibn Jarah ibn Thabit gửi thư tới quan chức y tế cấp cao nhất của thành phố, với chỉ thị: "nhà lao cần phải có bác sĩ riêng để thăm khám thường nhật cho phạm nhân". Bệnh viện đầu tiên được xây dựng tại Ai Cập, nằm ở khu Tây Nam Cairo, chính là cơ sở y tế đầu tiên được ghi nhận có chức năng chăm sóc các bệnh nhân tâm thần. Tại Bệnh viện Arghun ở Aleppo, liệu pháp điều trị bệnh tâm thần bao gồm việc cung cấp không gian tràn ngập ánh sáng, không khí trong lành, tiếng nước chảy và âm nhạc.[147]

Các sinh viên y khoa thường tháp tùng các y sĩ và trực tiếp tham gia vào quá trình chăm sóc bệnh nhân. Các bệnh viện trong thời kỳ này cũng chính là những cơ sở đầu tiên quy định bắt buộc bác sĩ phải có văn bằng y khoa mới được cấp phép hành nghề.[148] Kỳ thi cấp phép này được chủ trì bởi quan chức y tế đứng đầu khu vực do chính quyền bổ nhiệm. Quy trình sát hạch bao gồm hai giai đoạn: Giai đoạn đầu tiên yêu cầu thí sinh soạn thảo một luận văn về chuyên ngành mình muốn được cấp chứng chỉ; đó có thể là một nghiên cứu nguyên bản hoặc một bài bình giải về các y văn hiện hành, họ được đặc biệt khuyến khích tư duy phản biện để chỉ ra các sai sót trong tài liệu cũ. Giai đoạn thứ hai là vòng phỏng vấn vấn đáp trực tiếp với quan chức y tế đứng đầu. Về chế độ làm việc, các y sĩ hoạt động theo khung giờ quy định và mức lương của nhân viên y tế được luật pháp ấn định cụ thể. Nhằm kiểm soát chất lượng điều trị và phân xử các vụ việc tranh chấp, sử sách ghi lại rằng: nếu một bệnh nhân qua đời, gia đình họ sẽ trình các đơn thuốc của bác sĩ điều trị lên y sĩ trưởng. Vị này sẽ thẩm định xem cái chết đó là do lẽ tự nhiên hay do sơ suất y khoa; nếu kết luận là do sơ suất, gia đình bệnh nhân sẽ được quyền yêu cầu bác sĩ bồi thường.

Cổng vào khu phức hợp Qalawun, nơi từng tọa lạc bệnh viện Mansuri nổi tiếng tại Cairo.

Về cơ sở vật chất, các bệnh viện thường phân chia khu vực điều trị riêng biệt cho nam và nữ. Thậm chí, có những bệnh viện chỉ tiếp nhận bệnh nhân nam, trong khi một số bệnh viện khác – với đội ngũ y bác sĩ toàn nữ – chuyên trách điều trị cho phụ nữ.[149] Mặc dù các nữ y sĩ tham gia thực hành y khoa ở nhiều lĩnh vực, phần lớn trong số họ tập trung chuyên sâu vào sản khoa.[150]

Luật pháp thời bấy giờ nghiêm cấm các bệnh viện từ chối tiếp nhận những bệnh nhân không có khả năng chi trả.[151] Về sau, các quỹ thiện nguyện – được gọi là waqf – đã được thành lập để tài trợ cho hoạt động của cả bệnh viện lẫn trường học,[152] bên cạnh một phần kinh phí được trích từ ngân sách nhà nước.[153] Mặc dù các dịch vụ tại bệnh viện là hoàn toàn miễn phí cho mọi công dân – thậm chí đôi khi bệnh nhân còn được cấp một khoản trợ cấp nhỏ để bồi dưỡng sức khỏe sau khi xuất viện – nhưng cá biệt vẫn có trường hợp các y sĩ thu phí khám chữa riêng.[154] Một minh chứng tiêu biểu cho sự bảo trợ hào phóng này là việc Al-Mansur Qalawun, nhà cai trị Ai Cập thế kỷ 13, đã ban hành quy chế thành lập tổ hợp bệnh viện Qalawun. Khu phức hợp này bao gồm một thánh đường Hồi giáo, một nhà nguyện, các khu điều trị riêng biệt cho từng loại bệnh, thư viện dành cho bác sĩ cùng một nhà thuốc; cho đến ngày nay, nơi này vẫn đang hoạt động như một bệnh viện nhãn khoa. Bệnh viện Qalawun được đặt trên nền cũ của một cung điện triều đại Fatimid với sức chứa lên tới 8.000 người,[155] và tương truyền rằng nơi đây từng "phục vụ 4.000 bệnh nhân mỗi ngày".

Bản tuyên bố của quỹ waqf dành cho bệnh viện này đã ghi rõ những dòng đầy tính nhân văn:

"...Bệnh viện có trách nhiệm chăm sóc mọi bệnh nhân, cả nam lẫn nữ, cho đến khi họ hoàn toàn bình phục. Mọi chi phí sẽ do bệnh viện đài thọ, bất kể người bệnh đến từ phương xa hay ngay trong vùng, là cư dân bản địa hay người ngoại quốc, khỏe mạnh hay ốm yếu, địa vị thấp hèn hay cao sang, giàu hay nghèo, có việc làm hay thất nghiệp, mù lòa hay sáng mắt, mang bệnh thể xác hay tâm thần, là bậc trí thức hay người không biết chữ. Tuyệt đối không có bất kỳ điều kiện nào về sự đền đáp hay chi trả; không một ai bị từ chối hay thậm chí bị nhắc khéo về chuyện tiền nong."[156]

Thương mại và du lịch

[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoại trừ sông Nile, TigrisEuphrates, các dòng sông có khả năng giao thông đường thủy khá hiếm hoi ở Trung Đông, do đó vận tải đường biển đóng vai trò tối quan trọng. Khoa học hàng hải tại đây đã phát triển vượt bậc, tiêu biểu là việc sử dụng một dạng kính lục phân thô sơ (được gọi là kamal). Khi kết hợp công cụ này với các tấm bản đồ chi tiết đương thời, các thủy thủ đã có thể tự tin giong buồm vượt đại dương thay vì chỉ dám đi men theo đường bờ biển. Các thủy thủ Hồi giáo cũng là những người có công tái giới thiệu các tàu buôn cỡ lớn ba cột buồm vào vùng Địa Trung Hải. Tên gọi của loại tàu caravel (thuyền buồm nhẹ) nổi tiếng sau này có thể bắt nguồn từ một loại thuyền Ả Rập cổ hơn được gọi là qarib.[157]

Bản đồ thế giới năm 1154 của al-Idrisi ( Phía nam nằm ở đầu bản đồ)

Nhiều thương nhân Hồi giáo đã đến Trung Quốc giao thương, và họ bắt đầu tạo dựng tầm ảnh hưởng kinh tế to lớn lên quốc gia này. Người Hồi giáo gần như thống trị các ngành công nghiệp xuất nhập khẩu vào thời nhà Tống (960–1279).[158]

Muhammad al-Idrisi là tác giả của Tabula Rogeriana – tấm bản đồ hoàn hảo nhất thời Trung cổ. Tấm bản đồ này đã được nhiều nhà thám hiểm lừng danh như Christopher ColumbusVasco da Gama sử dụng cho các chuyến hải trình đến châu Mỹ và Ấn Độ.[159]

Nông nghiệp

[sửa | sửa mã nguồn]

Người Ả Rập tại Al-Andalus đã đem tới một tác động sâu rộng đối với nền nông nghiệp Tây Ban Nha, bao gồm việc khôi phục các hệ thống dẫn nước và kênh mương tưới tiêu từ thời La Mã, cũng như giới thiệu những công nghệ mới như acequias (kênh dẫn nước cộng đồng) và các khu vườn Hồi giáo (tiêu biểu như tại cung điện Generalife).

Sự lan truyền của mía từ tiểu lục địa Ấn Độ sang Tây Ban Nha trong thời kỳ cai trị của Hồi giáo

Tại Tây Ban NhaSicily, người Ả Rập đã du nhập nhiều loại cây trồng và thực phẩm từ Ba Tư, Khorasan, Tabaristan, Iraq, vùng Levant, Ai Cập, SindhẤn Độ; điển hình như lúa gạo, mía, cam, chanh, chuối, nghệ tây (saffron), cà rốt, cà tím. Bên cạnh đó, họ cũng khôi phục việc canh tác ô liulựu vốn có từ thời Hy Lạp - La Mã. Khu Rừng cọ Elche (The Palmeral of Elche) ở miền Nam Tây Ban Nha là một Di sản Thế giới được UNESCO công nhận, và là một minh chứng mang tính biểu tượng cho di sản nông nghiệp Hồi giáo tại châu Âu.

Nghệ thuật và văn hóa

[sửa | sửa mã nguồn]

Văn học và thơ

[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà thơ thế kỷ 13 Rumi[160] (còn được biết đến với tên gọi Mawlana) (Chuyển tự: mwlana) (từ tiếng Ả Rập có nghĩa là "bậc vĩ nhân trong cộng đồng chúng ta") đã viết nên những vần thơ tuyệt diệu bằng tiếng Ba Tư và vẫn là một trong những nhà thơ bán chạy nhất tại Hoa Kỳ.[161][162] Các nhà thơ Tiếng Ba Tư danh tiếng khác bao gồm Hafez (tác phẩm của ông từng được đọc bởi William Jones, Thoreau, Goethe, Ralph Waldo Emerson và Friedrich Engels), Saadi (thơ của ông được trích dẫn rộng rãi bởi Goethe, Hegel và Voltaire), Ferdowsi, Omar KhayyamAmir Khusrow.

Nghìn lẻ một đêm, một tuyển tập truyện dân gian Trung Đông được biên soạn bằng tiếng Ả Rập dưới thời Đế chế Abbasid, đã để lại dấu ấn sâu đậm trong nền văn học và văn hóa đại chúng của cả phương Tây lẫn Trung Đông với những tác phẩm kinh điển như Aladdin, Ali Baba và Bốn mươi tên cướp, hay Thủy thủ Sinbad.

Câu chuyện dân gian về Thủy thủ Sinbad thậm chí còn lấy cảm hứng trực tiếp từ văn học thời kỳ Hy Lạp hóa, chẳng hạn như các trường ca sử thi của Homer (được dịch từ tiếng Hy Lạp sang tiếng Ả Rập vào thế kỷ thứ 8 CN) và các truyền thuyết về Alexander (Alexander Romances – những câu chuyện về Alexander Đại đế vốn phổ biến ở châu Âu, Trung Đông và Ấn Độ).

Nghệ thuật

[sửa | sửa mã nguồn]
Bàn khảm và mặt gạch, 1560

Thư pháp – linh hồn của văn tự Ả Rập, đã đạt đến độ hoàn mỹ trong cả các bản thảo chép tay lẫn nghệ thuật kiến trúc. Loại hình nghệ thuật thị giác này xuất hiện lộng lẫy trên các bức tường cung điện, trong không gian nội thất và mái vòm của các thánh đường, cũng như bao quanh cấu trúc của các bục giảng kinh (minbar).[163] Nghệ thuật thư pháp sử dụng đa dạng các kiểu chữ đã được cách điệu và chuẩn hóa, trong đó hai phong cách chủ đạo là KuficNaskh. Bên cạnh đó, các sản phẩm gốm sứ, đồ kim loại và thủy tinh cũng được trang trí tinh xảo bằng những họa tiết hình học cùng màu sắc vô cùng sống động.[164]

Nghệ thuật trang trí bản thảo đóng vai trò quan trọng, đặc biệt là dòng tranh tiểu họa Ba Tư. Về sau, dòng tranh này còn tác động sâu sắc đến nghệ thuật tiểu họa tại các triều đình OttomanMughal trong giai đoạn thế kỷ 16–17.[165][166]

Rất ít tranh tường còn tồn tại đến ngày nay, đặc biệt là những bức tranh có mô tả khuôn mặt con người. Một ví dụ hiếm hoi cho loại hình này là các mảnh vỡ có niên đại đầu thế kỷ thứ 9 được tìm thấy từ tàn tích cung điện Dar al-Khilafah tại Samarra, thuộc triều đại Abbasid. Đây là những phần còn sót lại của các bức tranh tường khổ lớn, khắc họa hình ảnh những người phụ nữ trong hậu cung, trang phục đương thời và các loài động vật. Việc tìm thấy tranh vẽ mặt người trong cung điện Caliph ở Samarra là bằng chứng cho thấy: Trong không gian riêng tư (cung điện, hậu cung), giới quý tộc Hồi giáo vẫn thưởng thức nghệ thuật hình tượng con người, chứ không cấm đoán tuyệt đối như trong không gian công cộng hay tôn giáo.[167]

Âm nhạc

[sửa | sửa mã nguồn]

Kiến trúc

[sửa | sửa mã nguồn]
Bên trong Đại Thánh đường Cordoba

Đại Thánh đường Kairouan (tại Tunisia) – tiền thân của mọi thánh đường trong thế giới Hồi giáo phương Tây (ngoại trừ Thổ Nhĩ Kỳ và vùng Balkan)[168] – là một trong những hình mẫu quan trọng và nguyên vẹn nhất của các thánh đường lớn thời kỳ đầu. Được thành lập vào năm 670, nhưng diện mạo hiện tại của công trình chủ yếu có từ thế kỷ thứ 9.[169] Cấu trúc của Đại Thánh đường Kairouan bao gồm một tháp giáo đường (minaret) hình vuông ba tầng, một sân lớn được bao quanh bởi các hành lang có hàng cột, và một phòng cầu nguyện khổng lồ với kiến trúc nhiều cột chống, được che phủ dọc theo trục chính bởi hai mái vòm.[170]

Đại Thánh đường Samarra tại Iraq được hoàn thành vào năm 847. Công trình này kết hợp kiến trúc hypostyle với các hàng cột đỡ mái bằng, và nổi bật bên trên là một tháp giáo đường khổng lồ hình xoắn ốc được xây dựng độc đáo.

Việc khởi công xây dựng Đại Thánh đường Cordoba vào năm 785 đã đánh dấu sự khởi đầu của kiến trúc Hồi giáo tại Tây Ban Nha và Bắc Phi. Thánh đường này nổi tiếng với những vòm cung nội thất (kiểu móng ngựa sọc đỏ trắng) đầy ấn tượng. Kiến trúc Moorish đạt đến đỉnh cao với việc xây dựng Alhambra – tổ hợp cung điện và pháo đài tráng lệ tại Granada. Nơi đây sở hữu những không gian nội thất thoáng đãng, lộng gió và được tô điểm bằng các sắc đỏ, xanh dương và vàng kim. Các bức tường được trang trí bằng họa tiết thực vật cách điệu, các dòng chữ khắc Ả Rập và nghệ thuật thiết kế arabesque, cùng với những mảng tường phủ kín gạch men bóng có hoa văn hình học.

Nhiều dấu tích của kiến trúc Fatimid vẫn còn tồn tại ở Cairo ngày nay, trong đó những ví dụ tiêu biểu nhất bao gồm Đại học Al-Azharthánh đường Al-Hakim.

Nhân tố văn hóa

[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà sử học kinh tế Joel Mokyr từng đưa ra luận điểm rằng triết gia Hồi giáo al-Ghazali (1058–1111) – tác giả cuốn The Incoherence of the Philosophers (Sự Bất nhất của các Nhà triết học) – "là nhân vật mấu chốt dẫn đến sự suy tàn của khoa học Hồi giáo", và chính ông đã dẫn đến một sự chuyển dịch văn hóa khiến xã hội quay lưng lại với tư duy khoa học.[171] Trong cuốn sách này, al-Ghazali tấn công mạnh mẽ vào các triết gia theo trường phái Hy Lạp (như Ibn Sina/Avicenna). Ông nghi ngờ quy luật Nhân - Quả (Causality). Ví dụ: Lửa đốt cháy bông. Các nhà khoa học nói: Lửa gây ra sự cháy. Al-Ghazali nói: Không, ngọn lửa chạm vào bông và Thượng đế làm cho bông cháy. Nhiều học giả hiện đại (như Joel Mokyr) tin rằng tư duy này đã giết chết khoa học, vì nếu không tin vào nhân quả, người ta sẽ không nghiên cứu quy luật tự nhiên nữa.[172]

Tuy nhiên, lại có những lập luận phản bác rằng al-Ghazali thực chất là một người ngưỡng mộ và am tường triết học; ông chỉ phê phán việc áp dụng triết học vào các vấn đề thuần túy tôn giáo mà thôi.[173] Thêm vào đó, Saliba (2007) đã chỉ ra rằng Thời kỳ Hoàng kim không hề chững lại sau thời của al-Ghazali (người sống vào thế kỷ 11),[174][175] nhiều học giả khác còn cho rằng thời kỳ này kéo dài đến tận thế kỷ 16[176] hoặc 17.[177][178][179]

Nhân tố chính trị và kinh tế

[sửa | sửa mã nguồn]

Ahmad Y. al-Hassan đã bác bỏ quan điểm cho rằng sự thiếu hụt tư duy sáng tạo là nguyên nhân của sự suy thoái. Ông lập luận rằng khoa học vốn dĩ luôn được tách biệt rạch ròi khỏi các tranh luận tôn giáo. Thay vào đó, ông phân tích sự đi xuống này dưới góc độ kinh tế và chính trị, kế thừa từ những nghiên cứu của sử gia thế kỷ 14 Ibn Khaldun.[180]

Nhiều học giả hiện đại khác cũng đồng tình nhìn nhận sự suy thoái này qua lăng kính chính trị và kinh tế.[181][182] Các nghiên cứu gần đây đi đến kết luận rằng "những bằng chứng hiện có ủng hộ giả thuyết cho rằng: chính sự gia tăng quyền lực chính trị của giới tinh hoa là nguyên nhân dẫn đến sự sụt giảm các thành tựu khoa học."[183] Sự suy thoái này có thể là một phần của xu hướng rộng lớn hơn, khi thế giới phi phương Tây dần tụt hậu so với phương Tây trong giai đoạn Đại phân kỳ.

Vào năm 1206, Thành Cát Tư Hãn thành lập Đế quốc Mông Cổ. Trong thế kỷ 13, đế quốc này đã chinh phục hầu hết lục địa Á-Âu, bao gồm Trung Quốc ở phía Đông và phần lớn lãnh thổ của các Đế chế Hồi giáo cũ (cũng như Kievan Rus) ở phía Tây. Việc Húc Liệt Ngột tàn phá Baghdad và Nhà Thông thái vào năm 1258 được một số người coi là dấu chấm hết cho Thời kỳ Hoàng kim của Hồi giáo.[184] Tuy nhiên, nếu như trước đây ảnh hưởng văn hóa thường lan tỏa ra bên ngoài từ Baghdad, thì sau khi thành phố này sụp đổ, Iran và Trung Á lại chứng kiến một sự hưng thịnh về văn hóa. Điều này có được là nhờ sự hưởng lợi từ việc mở rộng giao thoa với Đông Á dưới sự cai trị của người Mông Cổ.[185][186]

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ George Saliba (1994), A History of Arabic Astronomy: Planetary Theories During the Golden Age of Islam, pp. 245, 250, 256–57. New York University Press,
  2. ^ King, David A. (1983). "The Astronomy of the Mamluks". Isis. Quyển 74 số 4. tr. 531–55. doi:10.1086/353360.
  3. ^ Hassan, Ahmad Y (1996). "Factors Behind the Decline of Islamic Science After the Sixteenth Century". Trong Sharifah Shifa Al-Attas (biên tập). Islam and the Challenge of Modernity, Proceedings of the Inaugural Symposium on Islam and the Challenge of Modernity: Historical and Contemporary Contexts, Kuala Lumpur, August 1–5, 1994. International Institute of Islamic Thought and Civilization (ISTAC). tr. 351–99. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 4 năm 2015.
  4. ^ Medieval India, NCERT, ISBN 81-7450-395-1
  5. ^ Vartan Gregorian, "Islam: A Mosaic, Not a Monolith", Brookings Institution Press, 2003, pp. 26–38 ISBN 0-8157-3283-X
  6. ^ Islamic Radicalism and Multicultural Politics. Taylor & Francis. ngày 1 tháng 3 năm 2011. tr. 9. ISBN 978-1-136-95960-8. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2012.
  7. ^ "Science and technology in Medieval Islam" (PDF). History of Science Museum. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2019.
  8. ^ Ruggiero, Guido (ngày 15 tháng 4 năm 2008). A Companion to the Worlds of the Renaissance, Guido Ruggiero. John Wiley & Sons. ISBN 978-0-470-75161-9. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2016.
  9. ^ Saliba, George (1994). A History of Arabic Astronomy: Planetary Theories During the Golden Age of Islam. New York University Press. tr. 245, 250, 256–257. ISBN 0-8147-8023-7.
  10. ^ King, David A. (1983). "The Astronomy of the Mamluks". Isis. 74 (4): 531–55. doi:10.1086/353360. S2CID 144315162.
  11. ^ Hassan, Ahmad Y (1996). "Factors Behind the Decline of Islamic Science After the Sixteenth Century". Trong Sharifah Shifa Al-Attas (biên tập). Islam and the Challenge of Modernity, Proceedings of the Inaugural Symposium on Islam and the Challenge of Modernity: Historical and Contemporary Contexts, Kuala Lumpur, 1–5 August 1994. International Institute of Islamic Thought and Civilization (ISTAC). tr. 351–99. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 4 năm 2015.
  12. ^ Josias Leslie Porter, A Handbook for Travelers in Syria and Palestine, 1868, p. 49.
  13. ^ Groth, Hans, biên tập (2012). Population Dynamics in Muslim Countries: Assembling the Jigsaw. Springer Science+Business Media. tr. 45. ISBN 978-3-642-27881-5.
  14. ^ Rafiabadi, Hamid Naseem, biên tập (2007). Challenges to Religions and Islam: A Study of Muslim Movements, Personalities, Issues and Trends, Part 1. Sarup & Sons. tr. 1141. ISBN 978-81-7625-732-9.
  15. ^ Salam, Abdus (1994). Renaissance of Sciences in Islamic Countries. World Scientific. tr. 9. ISBN 978-9971-5-0946-0.
  16. ^ a b "In Our Time – Al-Kindi, James Montgomery". BBC. ngày 28 tháng 6 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2013.
  17. ^ Brentjes, Sonja; Robert G. Morrison (2010). "The Sciences in Islamic societies". The New Cambridge History of Islam. Quyển 4. Cambridge: Cambridge University Press. tr. 569.
  18. ^ Hill, Donald (1993). Islamic Science and Engineering. Edinburgh University Press. tr. 4. ISBN 0-7486-0455-3.
  19. ^ "Nestorian – Christian sect". Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2016.
  20. ^ Rashed, Roshdi (2015). Classical Mathematics from Al-Khwarizmi to Descartes. Routledge. tr. 33. ISBN 978-0-415-83388-2.
  21. ^ "Hunayn ibn Ishaq – Arab scholar". Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2016.
  22. ^ Sarton, George. "History of Islamic Science". Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 8 năm 2016.
  23. ^ Siraisi, Nancy G. (2001). Medicine and the Italian Universities, 1250–1600. Brill Academic Publishers. tr. 134.
  24. ^ Beeston, Alfred Felix Landon (1983). Arabic literature to the end of the Umayyad period. Cambridge University Press. tr. 501. ISBN 978-0-521-24015-4. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2011.
  25. ^ "Compendium of Medical Texts by Mesue, with Additional Writings by Various Authors". World Digital Library. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2014.
  26. ^ Griffith, Sidney H. (ngày 15 tháng 12 năm 1998). "Eutychius of Alexandria". Encyclopædia Iranica. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2011.
  27. ^ Contadini, Anna (2003). "A Bestiary Tale: Text and Image of the Unicorn in the Kitāb naʿt al-hayawān (British Library, or. 2784)" (PDF). Muqarnas. 20: 17–33. doi:10.1163/22118993-90000037. JSTOR 1523325.
  28. ^ Bonner, Bonner; Ener, Mine; Singer, Amy (2003). Poverty and charity in Middle Eastern contexts. SUNY Press. tr. 97. ISBN 978-0-7914-5737-5.
  29. ^ Ruano, Eloy Benito; Burgos, Manuel Espadas (1992). 17e Congrès international des sciences historiques: Madrid, du 26 août au 2 septembre 1990. Comité international des sciences historiques. tr. 527. ISBN 978-84-600-8154-8.
  30. ^ Rémi Brague, Assyrians contributions to the Islamic civilization Lưu trữ ngày 27 tháng 9 năm 2013 tại Wayback Machine
  31. ^ Britannica, Nestorian Lưu trữ ngày 30 tháng 3 năm 2014 tại Wayback Machine
  32. ^ Foster, John (1939). The Church of the T'ang Dynasty. Great Britain: Society for Promoting Christian Knowledge. tr. 31. The school was twice closed, in 431 and 489
  33. ^ The School of Edessa Lưu trữ ngày 2 tháng 9 năm 2016 tại Wayback Machine, Nestorian.org.
  34. ^ Frew, Donald (2012). "Harran: Last Refuge of Classical Paganism". The Pomegranate: The International Journal of Pagan Studies. 13 (9): 17–29. doi:10.1558/pome.v13i9.17.
  35. ^ University of Tehran Overview/Historical Events Lưu trữ ngày 3 tháng 2 năm 2011 tại Wayback Machine
  36. ^ Kaser, Karl The Balkans and the Near East: Introduction to a Shared History Lưu trữ ngày 18 tháng 11 năm 2022 tại Wayback Machine p. 135.
  37. ^ Yazberdiyev, Almaz Libraries of Ancient Merv Lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2016 tại Wayback Machine Yazberdiyev is Director of the Library of the Academy of Sciences of Turkmenistan, Ashgabat.
  38. ^ Lewis, Bernard (2004). From Babel to Dragomans: Interpreting the Middle East. Oxford University Press. tr. 44. ISBN 978-0-19-517336-9.
  39. ^ Bulliet, Richard (2005). The Earth and Its Peoples. Boston: Houghton Mifflin. tr. 497. ISBN 0-618-42770-8.
  40. ^ Subtelny, Maria Eva (tháng 11 năm 1988). "Socioeconomic Bases of Cultural Patronage under the Later Timurids". International Journal of Middle East Studies. 20 (4): 479–505. doi:10.1017/S0020743800053861. S2CID 162411014. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2016.
  41. ^ "In Our Time – Al-Kindi, Hugh Kennedy". BBC. ngày 28 tháng 6 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2013.
  42. ^ Bloom, Jonathan (2001). Paper Before Print: The History and Impact of Paper in the Islamic World. New Haven: Yale University Press. tr. 8–10, 42–45. ISBN 0-300-08955-4.
  43. ^ "Islam's Gift of Paper to the West". Web.utk.edu. ngày 29 tháng 12 năm 2001. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2014.
  44. ^ Kevin M. Dunn, Caveman chemistry: 28 projects, from the creation of fire to the production of plastics. Universal-Publishers. 2003. tr. 166. ISBN 978-1-58112-566-5. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2014.
  45. ^ a b c d Richard C. Martin, biên tập (2004). "Education". Encyclopedia of Islam and the Muslim World. MacMillan Reference USA.
  46. ^ a b c d Richard C. Martin, biên tập (2004). "Education". Encyclopedia of Islam and the Muslim World. MacMillan Reference USA.
  47. ^ a b c d Richard C. Martin, biên tập (2004). "Education". Encyclopedia of Islam and the Muslim World. MacMillan Reference USA.
  48. ^ a b Lapidus, Ira M. (2014). A History of Islamic Societies. Cambridge University Press (Kindle edition). tr. 210. ISBN 978-0-521-51430-9.
  49. ^ Berkey, Jonathan Porter (2003). The Formation of Islam: Religion and Society in the Near East, 600–1800. Cambridge University Press. tr. 227.
  50. ^ a b c d Lapidus, Ira M. (2014). A History of Islamic Societies. Cambridge University Press (Kindle edition). tr. 217. ISBN 978-0-521-51430-9.
  51. ^ Hallaq, Wael B. (2009). An Introduction to Islamic Law. Cambridge University Press. tr. 50.
  52. ^ a b c Richard C. Martin, biên tập (2004). "Education". Encyclopedia of Islam and the Muslim World. MacMillan Reference USA.
  53. ^ The Guinness Book Of Records, Published 1998, ISBN 0-553-57895-2, p. 242
  54. ^ Halm, Heinz. The Fatimids and their Traditions of Learning. London: The Institute of Ismaili Studies and I.B. Tauris. 1997.
  55. ^ John L. Esposito, biên tập (2009). "Al-Azhar". The Oxford Encyclopedia of the Islamic World. Oxford: Oxford University Press. doi:10.1093/acref/9780195305135.001.0001. ISBN 978-0-19-530513-5.
  56. ^ Idris El Hareir; Ravane Mbaye (2011). The Spread of Islam Throughout the World. UNESCO. tr. 448. ISBN 978-92-3-104153-2. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2020.
  57. ^ J. Bradford De Long and Andrei Shleifer (tháng 10 năm 1993), "Princes and Merchants: European City Growth before the Industrial Revolution" (PDF), The Journal of Law and Economics, quyển 36 số 2, tr. 671–702 [678], CiteSeerX 10.1.1.164.4092, doi:10.1086/467294, S2CID 13961320, Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 29 tháng 7 năm 2018, truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2019
  58. ^ Dag Nikolaus Hasse (2014). "Influence of Arabic and Islamic Philosophy on the Latin West". Stanford Encyclopedia of Philosophy. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2017.
  59. ^ Dag Nikolaus Hasse (2014). "Influence of Arabic and Islamic Philosophy on the Latin West". Stanford Encyclopedia of Philosophy. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2017.
  60. ^ "In Our Time: Existence". bbcnews.com. ngày 8 tháng 11 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2013.
  61. ^ a b Lapidus, Ira M. (2014). A History of Islamic Societies. Cambridge University Press (Kindle edition). tr. 130–31. ISBN 978-0-521-51430-9.
  62. ^ a b Blankinship, Khalid (2008). Tim Winter (biên tập). The early creed. Quyển The Cambridge Companion to Classical Islamic Theology. Cambridge University Press (Kindle edition). tr. 53.
  63. ^ John L. Esposito, biên tập (2009). "Tawḥīd". The Oxford Encyclopedia of the Islamic World. Oxford: Oxford University Press. doi:10.1093/acref/9780195305135.001.0001. ISBN 978-0-19-530513-5.
  64. ^ Lapidus, Ira M. (2014). A History of Islamic Societies. Cambridge University Press (Kindle edition). tr. 125. ISBN 978-0-521-51430-9.
  65. ^ a b c Hallaq, Wael B. (2009). An Introduction to Islamic Law. Cambridge University Press. tr. 31–35.
  66. ^ a b c d Vikør, Knut S. (2014). "Sharīʿah". Trong Emad El-Din Shahin (biên tập). The Oxford Encyclopedia of Islam and Politics. Oxford University Press. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2017. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “vikor” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  67. ^ Lapidus, Ira M. (2014). A History of Islamic Societies. Cambridge University Press (Kindle edition). tr. 130. ISBN 978-0-521-51430-9.
  68. ^ a b c d e Calder, Norman (2009). "Law. Legal Thought and Jurisprudence". Trong John L. Esposito (biên tập). The Oxford Encyclopedia of the Islamic World. Oxford: Oxford University Press. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2017. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “calder” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  69. ^ Ziadeh, Farhat J. (2009). "Uṣūl al-fiqh". Trong John L. Esposito (biên tập). The Oxford Encyclopedia of the Islamic World. Oxford: Oxford University Press. doi:10.1093/acref/9780195305135.001.0001. ISBN 978-0-19-530513-5.
  70. ^ Kamali, Mohammad Hashim (1999). John Esposito (biên tập). Law and Society. Quyển The Oxford History of Islam . Oxford University Press. tr. 121–122.
  71. ^ Boyer, Carl B., 1985. A History of Mathematics, p. 252. Princeton University Press.
  72. ^ Gandz, S. (1936). "The Sources of Al-Khowārizmī's Algebra". Osiris. 1: 263–277. doi:10.1086/368426. JSTOR 301610. S2CID 60770737.
  73. ^ ""The first true algebra text which is still extant is the work on al-jabr and al-muqabala by Mohammad ibn Musa al-Khwarizmi, written in Baghdad around 825"" (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 27 tháng 3 năm 2019.
  74. ^ Esposito, John L. (ngày 6 tháng 4 năm 2000). The Oxford History of Islam (bằng tiếng Anh). Oxford University Press. tr. 188. ISBN 978-0-19-988041-6.
  75. ^ Mathematical Masterpieces: Further Chronicles by the Explorers, p. 92
  76. ^ O'Connor, John J.; Robertson, Edmund F., "Thời đại hoàng kim của Hồi giáo", Bộ lưu trữ lịch sử toán học MacTutor, Đại học St. Andrews
  77. ^ Katz, Victor J.; Barton, Bill (ngày 18 tháng 9 năm 2007). "Stages in the History of Algebra with Implications for Teaching". Educational Studies in Mathematics. 66 (2): 185–201. doi:10.1007/s10649-006-9023-7. S2CID 120363574.
  78. ^ Katz, Victor J. (1995). "Ideas of Calculus in Islam and India". Mathematics Magazine. 68 (3): 163–74 [165–69, 173–74]. doi:10.2307/2691411. JSTOR 2691411.
  79. ^ Peter J. Lu; Paul J. Steinhardt (2007). "Decagonal and Quasi-crystalline Tilings in Medieval Islamic Architecture". Science. 315 (5815): 1106–10. Bibcode:2007Sci...315.1106L. doi:10.1126/science.1135491. PMID 17322056. S2CID 10374218.
  80. ^ "Advanced geometry of Islamic art". BBC News. ngày 23 tháng 2 năm 2007.
  81. ^ Ball, Philip (ngày 22 tháng 2 năm 2007). "Islamic tiles reveal sophisticated maths". Nature: news070219–9. doi:10.1038/news070219-9. S2CID 178905751.
  82. ^ Greene, Richard Allen (ngày 5 tháng 10 năm 2011). "Nobel goes to scientist who knocked down 'Berlin Wall' of chemistry". CNN.
  83. ^ Castera, Jean Marc; Peuriot, Francoise (1999). Arabesques. Decorative Art in Morocco. Art Creation Realisation. ISBN 978-2-86770-124-5.
  84. ^ "Abu Abd Allah Muhammad ibn Muadh Al-Jayyani". University of St.Andrews. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2013.
  85. ^ Ibrahim A. Al-Kadi (April 1992), "The origins of cryptology: The Arab contributions", Cryptologia 16 (2): 97–126
  86. ^ Sahinaslan, Ender; Sahinaslan, Onder (ngày 2 tháng 4 năm 2019). "Cryptographic methods and development stages used throughout history". AIP Conference Proceedings. 2086 (1): 030033. Bibcode:2019AIPC.2086c0033S. doi:10.1063/1.5095118. ISSN 0094-243X. Al-Kindi is considered the first code breaker
  87. ^ El-Bizri, Nader (tháng 9 năm 2005). "A philosophical perspective on Alhazen's optics". Arabic Sciences and Philosophy. 15 (2): 189–218. doi:10.1017/S0957423905000172. S2CID 123057532.
  88. ^ Haq, Syed Nomanul (ngày 22 tháng 12 năm 2009). "Science in Islam". Islam & Science. 7 (2): 151–159. Gale A217042312.
  89. ^ Sabra, A.I. (1989). The Optics of Ibn al-Haytham. Books I–II–III: On Direct Vision. London: The Warburg Institute, University of London. pp. 25–29. ISBN 0-85481-072-2.
  90. ^ Toomer, G. J. (ngày 1 tháng 12 năm 1964). "Ibn al-Haythams Weg zur Physik. Matthias Schramm". Isis. 55 (4): 463–465. doi:10.1086/349914.
  91. ^ Al-Khalili, Jim (ngày 4 tháng 1 năm 2009). "The 'first true scientist'". BBC News.
  92. ^ "The Islamic roots of modern pharmacy". aramcoworld.com. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2016.
  93. ^ Hajar, R (2013). "The Air of History (Part IV): Great Muslim Physicians Al Rhazes". Heart Views. 14 (2): 93–95. doi:10.4103/1995-705X.115499. PMC 3752886. PMID 23983918.
  94. ^ Gingerich, Owen (1986). "Islamic Astronomy". Scientific American. 254 (4): 74–83. Bibcode:1986SciAm.254d..74G. doi:10.1038/scientificamerican0486-74. JSTOR 24975932.
  95. ^ Gingerich, Owen (1986). "Islamic Astronomy". Scientific American. 254 (4): 74–83. Bibcode:1986SciAm.254d..74G. doi:10.1038/scientificamerican0486-74. JSTOR 24975932.
  96. ^ Gingerich, Owen (1986). "Islamic Astronomy". Scientific American. 254 (4): 74–83. Bibcode:1986SciAm.254d..74G. doi:10.1038/scientificamerican0486-74. JSTOR 24975932.
  97. ^ Gingerich, Owen (1986). "Islamic Astronomy". Scientific American. 254 (4): 74–83. Bibcode:1986SciAm.254d..74G. doi:10.1038/scientificamerican0486-74. JSTOR 24975932.
  98. ^ Gingerich, Owen (1986). "Islamic Astronomy". Scientific American. 254 (4): 74–83. Bibcode:1986SciAm.254d..74G. doi:10.1038/scientificamerican0486-74. JSTOR 24975932.
  99. ^ a b Gingerich, Owen (1986). "Islamic Astronomy". Scientific American. 254 (4): 74–83. Bibcode:1986SciAm.254d..74G. doi:10.1038/scientificamerican0486-74. JSTOR 24975932.
  100. ^ Gingerich, Owen (1986). "Islamic Astronomy". Scientific American. 254 (4): 74–83. Bibcode:1986SciAm.254d..74G. doi:10.1038/scientificamerican0486-74. JSTOR 24975932.
  101. ^ Gingerich, Owen (1986). "Islamic Astronomy". Scientific American. 254 (4): 74–83. Bibcode:1986SciAm.254d..74G. doi:10.1038/scientificamerican0486-74. JSTOR 24975932.
  102. ^ Gingerich, Owen (1986). "Islamic Astronomy". Scientific American. 254 (4): 74–83. Bibcode:1986SciAm.254d..74G. doi:10.1038/scientificamerican0486-74. JSTOR 24975932.
  103. ^ J J O'Connor; E F Robertson (1999). "Abu Arrayhan Muhammad ibn Ahmad al-Biruni". MacTutor History of Mathematics archive. University of St Andrews. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2017.
  104. ^ Norris, John A. (tháng 3 năm 2006). "The Mineral Exhalation Theory of Metallogenesis in Pre-Modern Mineral Science". Ambix. 53 (1): 43–65. doi:10.1179/174582306X93183. S2CID 97109455.
  105. ^ Weisser, Ursula (1980). Das "Buch über das Geheimnis der Schöpfung" von Pseudo-Apollonios von Tyana. Berlin: De Gruyter. doi:10.1515/9783110866933. ISBN 978-3-11-007333-1. p. 46. On Newton's alchemy, see Newman, William R. (2019). Newton the Alchemist: Science, Enigma, and the Quest for Nature's Secret Fire. Princeton: Princeton University Press. ISBN 978-0-691-17487-7.
  106. ^ Karpenko, Vladimír; Norris, John A. (2002). "Vitriol in the History of Chemistry". Chemické listy. 96 (12): 997–1005.
  107. ^ See Newman, William R. (2004). Promethean Ambitions: Alchemy and the Quest to Perfect Nature. Chicago: University of Chicago Press. ISBN 978-0-226-57524-7.
  108. ^ Kraus, Paul (1942–1943). Jâbir ibn Hayyân: Contribution à l'histoire des idées scientifiques dans l'Islam. I. Le corpus des écrits jâbiriens. II. Jâbir et la science grecque. Cairo: Institut Français d'Archéologie Orientale. ISBN 978-3-487-09115-0. OCLC 468740510. Vol. II, pp. 41–42.
  109. ^ Karpenko, Vladimír; Norris, John A. (2002). "Vitriol in the History of Chemistry". Chemické listy. 96 (12): 997–1005.
  110. ^ Pingree, David (1985). "Bīrūnī, Abū Rayḥān iv. Geography". Encyclopaedia Iranica. Columbia University. ISBN 978-1-56859-050-9.
  111. ^ Zirkle, Conway (ngày 25 tháng 4 năm 1941). "Natural Selection before the "Origin of Species"". Proceedings of the American Philosophical Society. 84 (1): 71–123. JSTOR 984852.
  112. ^ Zirkle, Conway (ngày 25 tháng 4 năm 1941). "Natural Selection before the "Origin of Species"". Proceedings of the American Philosophical Society. 84 (1): 71–123. JSTOR 984852.
  113. ^ Farid Alakbarov (Summer 2001). A 13th-Century Darwin? Tusi's Views on Evolution Lưu trữ ngày 13 tháng 12 năm 2010 tại Wayback Machine, Azerbaijan International 9 (2).
  114. ^ Cosman, Madeleine Pelner; Jones, Linda Gale (2008). Handbook to Life in the Medieval World. Handbook to Life Series. Quyển 2. Infobase Publishing. tr. 528–30. ISBN 978-0-8160-4887-8.
  115. ^ Cyril Elgood, A Medical History of Persia and the Eastern Caliphate, (Cambridge University Press, 1951), p. 3.
  116. ^ Hajar, R (2013). "The Air of History (Part IV): Great Muslim Physicians Al Rhazes". Heart Views. 14 (2): 93–95. doi:10.4103/1995-705X.115499. PMC 3752886. PMID 23983918.
  117. ^ K. Mangathayaru (2013). Pharmacognosy: An Indian perspective. Pearson education. tr. 54. ISBN 978-93-325-2026-4.
  118. ^ Lock, Stephen (2001). The Oxford Illustrated Companion to Medicine. Oxford University Press. tr. 607. ISBN 978-0-19-262950-0.
  119. ^ A.C. Brown, Jonathan (2014). Misquoting Muhammad: The Challenge and Choices of Interpreting the Prophet's Legacy. Oneworld Publications. tr. 12. ISBN 978-1-78074-420-9.
  120. ^ Amr, Samir; Tbakhi, Abdulghani (2007). "Abu Bakr Muhammad Ibn Zakariya Al Razi (Rhazes): Philosopher, Physician and Alchemist". Annals of Saudi Medicine. 27 (4): 305–307. doi:10.5144/0256-4947.2007.305. PMC 6074295. PMID 17684438.
  121. ^ "Pioneer Muslim Physicians". aramcoworld.com. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2017.
  122. ^ West, John (2008). "Ibn al-Nafis, the pulmonary circulation, and the Islamic Golden Age". Journal of Applied Physiology. 105 (6): 1877–80. doi:10.1152/japplphysiol.91171.2008. PMC 2612469. PMID 18845773.
  123. ^ West, John (2008). "Ibn al-Nafis, the pulmonary circulation, and the Islamic Golden Age". Journal of Applied Physiology. 105 (6): 1877–80. doi:10.1152/japplphysiol.91171.2008. PMC 2612469. PMID 18845773.
  124. ^ West, John (2008). "Ibn al-Nafis, the pulmonary circulation, and the Islamic Golden Age". Journal of Applied Physiology. 105 (6): 1877–80. doi:10.1152/japplphysiol.91171.2008. PMC 2612469. PMID 18845773.
  125. ^ Souayah, N; Greenstein, JI (2005). "Insights into neurologic localization by Rhazes, a medieval Islamic physician". Neurology. 65 (1): 125–28. doi:10.1212/01.wnl.0000167603.94026.ee. PMID 16009898. S2CID 36595696.
  126. ^ "Abu Bakr Mohammad Ibn Zakariya al-Razi (Rhazes) (c. 865-925)". sciencemuseum.org.uk. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015.
  127. ^ Hajar, R (2013). "The Air of History (Part IV): Great Muslim Physicians Al Rhazes". Heart Views. 14 (2): 93–95. doi:10.4103/1995-705X.115499. PMC 3752886. PMID 23983918.
  128. ^ Cosman, Madeleine Pelner; Jones, Linda Gale (2008). Handbook to Life in the Medieval World. Handbook to Life Series. Quyển 2. Infobase Publishing. tr. 528–30. ISBN 978-0-8160-4887-8.
  129. ^ Elgood, Cyril (2010). A Medical History of Persia and The Eastern Caliphate (ấn bản thứ 1). London: Cambridge. tr. 202–203. ISBN 978-1-108-01588-2. By writing a monograph on 'Diseases in Children' he may also be looked upon as the father of paediatrics.
  130. ^ Ahmad, Z. (tháng 5 năm 2007). "Al-Zahrawi: The father of surgery". ANZ Journal of Surgery. 77 (s1): A83. doi:10.1111/j.1445-2197.2007.04130_8.x. S2CID 57308997.
  131. ^ "Pioneer Muslim Physicians". aramcoworld.com. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2017.
  132. ^ Ignjatovic, Mile (2003). "Historical review of the thyroid gland surgery". Acta Chirurgica Iugoslavica. 50 (3): 9–36. doi:10.2298/aci0303009i. PMID 15179751.
  133. ^ Pormann, Peter E.; Savage-Smith, Emilie (2007). Medieval Islamic Medicine. Edinburgh University Press. tr. 61. ISBN 978-0-7486-2066-1.
  134. ^ Koetsier, Teun (tháng 5 năm 2001). "On the prehistory of programmable machines: musical automata, looms, calculators". Mechanism and Machine Theory. 36 (5): 589–603. doi:10.1016/S0094-114X(01)00005-2.
  135. ^ Guy V., Beckwith (1997). Readings in Technology and Civilization (bằng tiếng Anh). Pearson Custom Publishing. tr. 290. ISBN 978-0-536-00579-3.
  136. ^ Hill, Donald R. (1978). "Review of Taqī-al-Dīn and Arabic Mechanical Engineering. With the Sublime Methods of Spiritual Machines. An Arabic Manuscript of the Sixteenth Century". Isis. 69 (1): 117–118. doi:10.1086/351968. JSTOR 230643.
  137. ^ Darke, Diana (2022). "Chapter 5". The Ottomans: A Cultural Legacy (bằng tiếng Anh). Thames & Hudson. ISBN 978-0-500-77753-4.
  138. ^ "Arab world (general)". Encyclopedia of Women & Islamic Cultures. doi:10.1163/1872-5309_ewic_ewiccom_0304. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2023.
  139. ^ * Spengler, Joseph J. (1964). "Economic Thought of Islam: Ibn Khaldun". Comparative Studies in Society and History. 6 (3): 268–306. doi:10.1017/s0010417500002164. JSTOR 177577. S2CID 143498971. .   • Boulakia, Jean David C. (1971). "Ibn Khaldûn: A Fourteenth-Century Economist". Journal of Political Economy. 79 (5): 1105–18. doi:10.1086/259818. JSTOR 1830276. S2CID 144078253..
  140. ^ Posner, Ernest (1972). "Archives in Medieval Islam". American Archivist. 35 (3–4): 291–315. doi:10.17723/aarc.35.3-4.x1546224w7621152.
  141. ^ Savage-Smith, Emilie; Klein-Franke, F.; Zhu, Ming (2012). "Ṭibb". Trong P. Bearman; Th. Bianquis; C.E. Bosworth; E. van Donzel; W.P. Heinrichs (biên tập). Encyclopaedia of Islam (ấn bản thứ 2). Brill. doi:10.1163/1573-3912_islam_COM_1216.
  142. ^ Savage-Smith, Emilie; Klein-Franke, F.; Zhu, Ming (2012). "Ṭibb". Trong P. Bearman; Th. Bianquis; C.E. Bosworth; E. van Donzel; W.P. Heinrichs (biên tập). Encyclopaedia of Islam (ấn bản thứ 2). Brill. doi:10.1163/1573-3912_islam_COM_1216.
  143. ^ "The Islamic Roots of the Modern Hospital". aramcoworld.com. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2017.
  144. ^ "The Islamic Roots of the Modern Hospital". aramcoworld.com. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2017.
  145. ^ "The Islamic roots of modern pharmacy". aramcoworld.com. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2016.
  146. ^ Rise and spread of Islam. Gale. 2002. tr. 419. ISBN 978-0-7876-4503-8.
  147. ^ "The Islamic Roots of the Modern Hospital". aramcoworld.com. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2017.
  148. ^ Alatas, Syed Farid (2006). "From Jami'ah to University: Multiculturalism and Christian–Muslim Dialogue". Current Sociology. 54 (1): 112–32. doi:10.1177/0011392106058837. S2CID 144509355.
  149. ^ "The Islamic Roots of the Modern Hospital". aramcoworld.com. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2017.
  150. ^ "Pioneer Muslim Physicians". aramcoworld.com. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2017.
  151. ^ Rise and spread of Islam. Gale. 2002. tr. 419. ISBN 978-0-7876-4503-8.
  152. ^ Rise and spread of Islam. Gale. 2002. tr. 419. ISBN 978-0-7876-4503-8.
  153. ^ "The Islamic Roots of the Modern Hospital". aramcoworld.com. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2017.
  154. ^ "The Islamic Roots of the Modern Hospital". aramcoworld.com. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2017.
  155. ^ Bedi N. Şehsuvaroǧlu (ngày 24 tháng 4 năm 2012). "Bīmāristān". Trong P. Bearman; Th. Bianquis; C.E. Bosworth; và đồng nghiệp (biên tập). Encyclopaedia of Islam (ấn bản thứ 2). Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2014.
  156. ^ Philip Adler; Randall Pouwels (2007). World Civilizations. Cengage Learning. tr. 198. ISBN 978-1-111-81056-6. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2014.
  157. ^ "History of the caravel". Nautarch.tamu.edu. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2011.
  158. ^ "Islam in China". BBC. ngày 2 tháng 10 năm 2002. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2016.
  159. ^ Houben, 2002, pp. 102–104.
  160. ^ Lewis, Franklin D. (ngày 1 tháng 11 năm 2007). Rumi, Past and Present, East and West: The Life, Teachings and Poetry of Jalâl al-Din Rumi (bằng tiếng Anh) (ấn bản thứ 2). Oneworld Publications. tr. 9. ISBN 9781851685493.
  161. ^ Haviland, Charles (ngày 30 tháng 9 năm 2007). "The roar of Rumi – 800 years on". BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2011.
  162. ^ "Islam: Jalaluddin Rumi". BBC. ngày 1 tháng 9 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2011.
  163. ^ Madden, Edward H. (1975). "Some Characteristics of Islamic Art". The Journal of Aesthetics and Art Criticism. 33 (4): 423–430. doi:10.2307/429655. JSTOR 429655.
  164. ^ Mason, Robert B. (1995). New Looks at Old Pots: Results of Recent Multidisciplinary Studies of Glazed Ceramics from the Islamic World. Brill Academic Publisher.
  165. ^ Verma, S.P. (2000). "Mughal Painting, Patrons and Painters". Proceedings of the Indian History Congress. 61: 510–526. ISSN 2249-1937. JSTOR 44148128.
  166. ^ Fisher, Carol Garrett (1984). "A Reconstruction of the Pictorial Cycle of the "Siyar-i Nabī" of Murād III". Ars Orientalis. 14: 75–94. ISSN 0571-1371. JSTOR 4629330.
  167. ^ "BBC Radio 4 - A History of the World in 100 Objects, Inside The Palace: Secrets At Court (700 - 950 AD), Harem wall painting fragments - Episode Transcript – Episode 52 - Harem wall painting fragments". BBC (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2022.
  168. ^ John Stothoff Badeau and John Richard Hayes, The Genius of Arab civilization: source of Renaissance. Taylor & Francis. ngày 1 tháng 1 năm 1983. tr. 104. ISBN 978-0-262-08136-8. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2014.
  169. ^ "Great Mosque of Kairouan (Qantara mediterranean heritage)". Qantara-med.org. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2014.
  170. ^ John Stothoff Badeau and John Richard Hayes, The Genius of Arab civilization: source of Renaissance. Taylor & Francis. ngày 1 tháng 1 năm 1983. tr. 104. ISBN 978-0-262-08136-8. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2014.
  171. ^ Mokyr, Joel (ngày 12 tháng 6 năm 2018). Mokyr, J.: A Culture of Growth: The Origins of the Modern Economy. (eBook and Hardcover). Princeton University Press. tr. 67. ISBN 978-0-691-18096-0. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2017. {{Chú thích sách}}: Đã bỏ qua |website= (trợ giúp)
  172. ^ Mokyr, Joel (ngày 12 tháng 6 năm 2018). Mokyr, J.: A Culture of Growth: The Origins of the Modern Economy. (eBook and Hardcover). Princeton University Press. tr. 67. ISBN 978-0-691-18096-0. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2017. {{Chú thích sách}}: Đã bỏ qua |website= (trợ giúp)
  173. ^ "Bringing Muslims back to science". Al Jazeera. ngày 11 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2022.
  174. ^ "Did al-Ghazali Kill the Science in Islam?". Fountain Magazine. ngày 1 tháng 5 năm 2012.
  175. ^ "The Fountain Magazine – Issue – Did al-Ghazali Kill the Science in Islam?". www.fountainmagazine.com (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2018.
  176. ^ Hassan, Ahmad Y (1996). "Factors Behind the Decline of Islamic Science After the Sixteenth Century". Trong Sharifah Shifa Al-Attas (biên tập). Islam and the Challenge of Modernity, Proceedings of the Inaugural Symposium on Islam and the Challenge of Modernity: Historical and Contemporary Contexts, Kuala Lumpur, 1–5 August 1994. International Institute of Islamic Thought and Civilization (ISTAC). tr. 351–99. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 4 năm 2015.
  177. ^ El-Rouayheb, Khaled (2008). "The Myth of "The Triumph of Fanaticism" in the Seventeenth-Century Ottoman Empire". Die Welt des Islams. 48 (2): 196–221. doi:10.1163/157006008x335930.
  178. ^ El-Rouayheb, Khaled (2006). "Opening the Gate of Verification: The Forgotten Arab-Islamic Florescence of the 17th Century". International Journal of Middle East Studies. 38 (2): 263–81. doi:10.1017/s0020743806412344. S2CID 162679546.
  179. ^ El-Rouhayeb, Khaled (2015). Islamic Intellectual History in the Seventeenth Century: Scholarly Currents in the Ottoman Empire and the Maghreb. Cambridge: Cambridge University Press. tr. 1–10. ISBN 978-1-107-04296-4.
  180. ^ Hassan, Ahmad Y (1996). "Factors Behind the Decline of Islamic Science After the Sixteenth Century". Trong Sharifah Shifa Al-Attas (biên tập). Islam and the Challenge of Modernity, Proceedings of the Inaugural Symposium on Islam and the Challenge of Modernity: Historical and Contemporary Contexts, Kuala Lumpur, 1–5 August 1994. International Institute of Islamic Thought and Civilization (ISTAC). tr. 351–99. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 4 năm 2015.
  181. ^ Saliba, George (1994). A History of Arabic Astronomy: Planetary Theories During the Golden Age of Islam. New York University Press. tr. 245, 250, 256–257. ISBN 0-8147-8023-7.
  182. ^ King, David A. (1983). "The Astronomy of the Mamluks". Isis. 74 (4): 531–55. doi:10.1086/353360. S2CID 144315162.
  183. ^ "Religion and the Rise and Fall of Islamic Science". scholar.harvard.edu. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2015.
  184. ^ Cooper, William W.; Yue, Piyu (2008). Challenges of the Muslim world: present, future and past. Emerald Group Publishing. ISBN 978-0-444-53243-5. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2014.
  185. ^ Bulliet, Richard (2005). The Earth and Its Peoples. Boston: Houghton Mifflin. tr. 497. ISBN 0-618-42770-8.
  186. ^ Subtelny, Maria Eva (tháng 11 năm 1988). "Socioeconomic Bases of Cultural Patronage under the Later Timurids". International Journal of Middle East Studies. 20 (4): 479–505. doi:10.1017/S0020743800053861. S2CID 162411014. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2016.