Thời kỳ Bình Thành

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Heisei (平成 (Bình Thành)?)niên hiệu hiện tại ở Nhật Bản. Thời kỳ Bình Thành bắt đầu từ ngày 8 tháng 1 năm 1989, một ngày sau khi Thiên hoàng Chiêu Hòa băng hà, được đánh dấu bằng sự kiện Akihito đăng cơ ngôi vị thiên hoàng thứ 125. Thời kỳ này cũng đánh dấu sự kết thúc chiến tranh lạnh do đó nó còn được gọi là thời kỳ Nhật Bản sau chiến tranh lạnh. Theo phong tục Nhật Bản, thụy hiệu "Thiên hoàng Chiêu Hòa" được đặt vào ngày 31 tháng 1, giống các Thiên hoàng trước như Mutsuhito (Thiên hoàng Minh Trị) và Yoshihito (Thiên hoàng Đại Chính).

Năm 1989 tương ứng với năm Chiêu Hòa thứ 64 tính đến ngày thứ 7 của tháng đầu tiên (ngày 7 tháng 1) và năm Bình Thành thứ nhất (平成元年 (Bình Thành Nguyên Niên) Heisei gannen?) kể từ ngày thứ 8 tháng 1. Năm 2018 là năm Bình Thành thứ 30. Để tính nhanh năm hiện tại theo năm Bình Thành ta có quy tắc:

  • Năm 1989 = Bình Thành thứ nhất --> Năm 2000 = Bình Thành thứ 12 --> Năm 2010 = Bình Thành thứ 22.
  • Năm 2019 = Bình Thành thứ 31.

Ví dụ năm 2009 = Bình Thành thứ 21 và thường được viết tắt là H21.

Niên hiệu Bình Thành có thể sẽ chấm dứt vào ngày 30 tháng 4 năm 2019 (Bình Thành thứ 31), ngày dự kiến Nhật hoàng Akihito tuyên bố thoái vị.[1]

Lịch sử và ý nghĩa niên hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Nhật hoàng Akihito và Hoàng hậu Michiko cùng các thành viên hoàng gia (2013)

07 giờ 55 phút ngày 7 tháng 1 năm 1989, JST, trưởng quan Cung nội sảnh, Shōichi Fujimori, thông báo Nhật hoàng Hirohito băng hà, và tiết lộ nhiều chi tiết lần đầu tiên được công bố về căn bệnh ung thư của ông. Sau đó một thời gian ngắn, Keizō Obuchi, khi đó là Thư ký trưởng Nội các và sau này là Thủ tướng Nhật Bản, ra tuyên cáo kết thúc thời kỳ Chiêu Hòa, và thời kỳ mới "Bình Thành" sắp mở ra, cùng với việc giải thích ý nghĩa niên hiệu này.

Theo Obuchi, niên hiệu "Bình Thành" được lấy theo hai quyển cổ tịch Trung Quốc, là Sử ký Tư Mã Thiên (史記 Shiki) và Kinh Thư (書経 Shokyō). Trong sách Sử ký, câu Nội bình ngoại thành "内平外成" (Kanbun: 内平かに外成る Uchi tairaka ni soto naru) xuất hiện trong phần ca ngợi sự cai trị sáng suốt của Vua Thuấn, vị vua thời huyền sử Trung Hoa. Trong Kinh Thư, câu Địa bình thiên thành "地平天成" (Kanbun: 地平かに天成る Chi tairaka ni ten naru) cũng xuất hiện. Kết hợp cả hai ý, Bình Thành mang nghĩa "thái bình muôn nơi". Niên hiệu Bình Thành có hiệu lực tức thời trong ngày Nhật hoàng Akihito đăng cơ, tức ngày 7 tháng 1 năm 1989.

Tháng 8 năm 2016, Nhật hoàng Akihito xuất hiện trên truyền hình trước thần dân của mình, bày tỏ mối lo ngại về tuổi tác có thể khiến ông không thể phụng sự trọng trách trước quốc gia. Đây chính là ẩn ý rằng ông muốn được nghỉ hưu.[1] Tháng 6 năm 2017, Quốc hội Nhật Bản thông qua luật cho phép đế vị được truyền cho Hoàng thái tử Naruhito.[1] Sau cuộc họp với các thành viên của Hội đồng Hoàng thất, Thủ thướng Shinzō Abe thông báo rằng ngày 30 tháng 4 năm 2019 là ngày hoàng đế Akihito tuyên bố thoái vị.[1] Nhật hoàng kế vị Naruhito sẽ đặt niên hiệu mới vào ngày kế tiếp.[2]

Sự kiện[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1989 đánh dấu sự phát triển đỉnh điểm về tăng trưởng kinh tế nhanh nhất trong lịch sử Nhật Bản. Với thế mạnh đồng yên và tỷ giá hối đối phù hợp với Đô-la Mỹ, Ngân hàng Nhật Bản giữ lãi suất thấp, đầu tư phát triển vượt bậc đã đưa giá trị tài sản Tokyo lên sáu mươi phần trăm trong năm. Trong khoảng thời gian ngắn trước ngày đầu của Năm mới, chỉ số Nikkei 225 đạt mức kỷ lục 39.000 điểm. Năm 1991, chỉ số này đã giảm còn 15.000, đánh dấu kết thúc "nền kinh tế bong bóng". Sau đó, Nhật Bản trải qua giai đoạn "khủng hoảng kinh tế thời Heisei", bao gồm hơn một thập kỷ giảm lạm phát giá cả và GDP trì trệ trong khi đó các ngân hàng Nhật Bản cố gắng giải quyết các khoản nợ xấu và các công ty trong các ngành khác cần phải cấu trúc lại. Một số nhà phân tích đổ lỗi việc khủng hoảng kinh tế kéo dài là do việc áp dụng các nguyên tắc kinh tế Neo-Keynesian liên tục của chính phủ Nhật Bản trong các giải pháp thực thi. Tuy nhiên, gần đây, các nhà bình luận cũng đưa ra các dấu hiệu cho thấy nền kinh tế của Nhật Bản đang thoát khỏi cuộc khủng hoảng.

Các vụ scandal năm 1988 đã làm giảm uy tín của Đảng Dân chủ Tự do (LDP), là đảng kiểm soát của chính phủ Nhật Bản trong 38 năm. Năm 1993, LDP đã bị hất cẳng bởi một liên minh do Morihiro Hosokawa đứng đầu. Tuy nhiên, liên minh đã giải tán vì mục đích chính của nó là lật đổ LDP và thiếu một vị trí thống nhất trên hầu hết các vấn đề xã hội. LDP trở lại chính phủ trong 1994, khi nó đã giúp bầu chọn Tomiichi Murayama đảng Xã hội (sau này là Đảng Xã hội Dân chủ) làm Thủ tướng.

Năm 1995, trận động đất lớn ở Kobe xảy ra đồng thời với vụ khủng bố bằng khí sarin vào hệ thống tàu điện ngầm tại Tokyo của những người theo giáo phái Aum Shinrikyo, chính phủ Nhật Bản không trở tay kịp với những sự kiện này làm cho vai trò của các tổ chức phi chính phủ trở nên quan trọng trong chính trị Nhật Bản.

Thời kỳ Heisei cũng đánh dấu những sự tái trỗi dậy một cách thận trọng về sức mạnh quân sự của Nhật Bản trên thế giới. Năm 1991, Nhật Bản cam kết viện trợ hàng tỷ đô la cho chiến tranh vùng Vịnh nhưng các tranh cãi xung quanh Hiến pháp không cho phép hợp tác hoặc hỗ trợ chiến tranh. Iran chỉ trích Nhật Bản về vấn đề này và không đánh giá cao cách mà Nhật Bản hợp tác trong chiến tranh vùng Vịnh. Các tàu quét mìn đã được đưa tới sau cuộc chiến để hỗ trợ cho công cuộc tái thiết đất nước này. Sau cuộc xâm chiếm Iraq lần thứ 2, năm 2003, nội các của Thủ tướng Nhật Bản Junichiro Koizumi chấp thuận kế hoạch chuyển khoảng 1.000 lính thuộc lực lượng phòng vệ Nhật Bản đến giúp cuộc tái thiết Iraq, đây là cuộc chuyển binh lớn nhất kể từ sau thế chiến thứ 2 mà không cần sự đồng ý của Hoa Kỳ. Các đội binh này được chuyển đến Iraq vào năm 2004.

Vào 23 tháng 10 năm 2004, các trận động đất năm Heisei thứ 16 ở tỉnh Niigata làm rung chuyển vùng Hokuriku, làm chết 52 người và bị thương hàng trăm người(xem động đất Chūetsu năm 2004).

Mùa thu năm 2007, Yasuo Fukuda được bổ nhiệm làm Thủ tướng sau khi Shinzō Abe bất ngờ từ chức, sau thất bại trong cuộc bầu cử vào đầu năm. Fukuda lại từ chức vào tháng 9 năm sau do không vượt qua được những chia rẽ trong Quốc hội, và sau đó Taro Aso được bầu vào vị trí của ông.

Tháng 7 năm 2009, tỉ lệ thất nghiệp tại Nhật Bản lên đến mức kỷ lục là 5,7% kể từ sau thế chiến thứ 2, vượt qua mức kỷ lục vào tháng 4 năm 2003 là 5,5%.[3]

Ngày 16 tháng 9 năm 2008, Hatoyama Yukio, chủ tịch đảng Dân chủ Nhật Bản, trở thành Thủ tướng thứ 93 của Nhật Bản. Đây là sự chuyển giao quyền lực đầu tiên sau 16 năm ở nước này, kể từ khi chính quyền 9 đảng liên minh do Thủ tướng Morihiro Hosokawa dẫn đầu thay thế chính phủ của đảng Dân chủ Tự do vào năm 1993.[4][5]

Bảng đối chiếu[sửa | sửa mã nguồn]

Giấy thông hành xe lửa có giá trị trong năm Bình Thành thứ 18 (tức năm 2006)
Chiêu Hòa 62 63 64
Gregorius 1987 1988 1989
Bình Thành 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16
Gregorius 1989 1990 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004
Bình Thành 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31
Gregorius 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2019

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b “Japan's emperor to abdicate on April 30, 2019: gov't source”. english.kyodonews.net. Kyodo News. 1 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2017. 
  2. ^ Kyodo, Jiji (3 tháng 12 năm 2017). “Japan’s publishers wait in suspense for next era name”. The Japan Times Online. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2018. 
  3. ^ Japan's unemployment rate hits record high in July
  4. ^ New Prime Minister Hatoyama forms DPJ-led Cabinet (tiếng Anh)
  5. ^ Nhật Bản có chính phủ mới (tiếng Việt)

Tiền nhiệm:
Nhật Bản trong Chiến tranh Lạnh
1945-1989

Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ hai
Thời kỳ Bình Thành
1989-hiện tại

Kế nhiệm:
-