Thủ Đức (huyện)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Thủ Đức
Huyện
VN-F-HC-QTD position in city core.png
Vị trí huyện trong địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh (phần bôi hồng là quận Thủ Đức, 2 quận 2 và 9 nằm ở phía bên phải Sông Sài Gòn, quận 9 nằm bên phải quận Thủ Đức)
Địa lý
Dân số  
Hành chính
Quốc gia Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Việt Nam
Vùng Đông Nam Bộ
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Phân chia hành chính 1 thị trấn, 22 xã (1996)

Huyện Thủ Đức là một huyện cũ của Thành phố Hồ Chí Minh. Năm 1997, huyện Thủ Đức giải thể, chia thành 3 quận mới là Quận 2, Quận 9quận Thủ Đức.

Tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Có thuyết rằng tên gọi Thủ Đức là lấy từ tên một vị quan trấn thủ một khu đồi xưa trên khu vực này tên là Đức. Về sau, một thương gia tên Tạ Dương Minh đến đây lập chợ, lấy tên và chức của vị quan trấn thủ tên Đức kia đặt cho chợ Thủ Đức để tỏ lòng biết ơn. Từ đó có địa danh Thủ Đức.[1] Tuy nhiên, trong báo cáo của phòng Di sản văn hóa thuộc Sở Văn hóa, Thông tin và Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh ngày 10 tháng 10 năm 2010, thì: "...ông Tạ Dương Minh (Tạ Huy), hiệu Thủ Đức, chính là người đã góp phần khai khẩn lập ấp vùng Linh Chiểu xưa và xây dựng ngôi chợ đầu tiên tại đây mang tên hiệu của ông là chợ Thủ Đức" [2]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thời phong kiến[sửa | sửa mã nguồn]

Đình thần Bình Đức ở xã Tam Phú, nay là phường Tam Phú, quận Thủ Đức
  • Năm Mậu Dần (1698), Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh được Chúa Minh Vương Nguyễn Phúc Chu điều vào "kinh lược đất Chân Lạp, chia đất Đông Phố thành hai huyện: lấy xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên (Biên Hòa), lấy xứ Sài Côn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn (Gia Định)".[3]
  • Năm 1808, vua Gia Long đổi dinh Trấn Biên thành trấn Biên Hòa, huyện Phước Long được nâng lên thành phủ gồm 4 huyện là Bình An, Phước Chánh, Long Thành và Phước An. Năm 1832, vua Minh Mạng đổi trấn Biên Hòa thành tỉnh Biên Hòa. Năm 1837, vua cho lập thêm phủ Phước Tuy và 2 huyện Ngãi An và Long Khánh..
  • Trước khi thực dân Pháp chiếm Miền Đông Nam Kỳ, địa bàn vùng đất Thủ Đức ngày nay tương ứng với phần lớn huyện Ngãi An thuộc phủ Phước Long, tỉnh Biên Hòa và tổng Long Vĩnh Hạ thuộc huyện Long Thành, phủ Phước Tuy, tỉnh Biên Hòa. Huyện Ngãi An bao gồm 5 tổng với 51 thôn: An Bình (10 thôn), An Điền (09 thôn), An Thổ (10 thôn), An Thủy (14 thôn), Chánh Thiện (08 thôn). Riêng tổng Long Vĩnh Hạ có 12 thôn.

Thời Pháp thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

Bí thư huyện ủy Thủ Đức (nhiệm kỳ 1950-1955) Lê Văn Long

Với Hòa ước Nhâm Tuất (1862), triều đình Huế nhượng hẳn 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ cho Pháp làm thuộc địa. Chính quyền thực dân Pháp chia 3 tỉnh này thành 13 thành các hạt thanh tra (inspection), do các viên chức Pháp ngạch thanh tra các công việc bản xứ (inspecteur des affaires indigeânes) đứng đầu, nhưng tạm thời vẫn giữ cơ cấu phủ huyện cũ.

Sau khi chiếm được toàn bộ Nam Kỳ, năm 1868, chính quyền thực dân Pháp bãi bỏ các đơn vị hành chính phủ, huyện, phân chia lại toàn bộ cõi Nam Kỳ. Các hạt thanh tra về sau cũng được đổi thành hạt tham biện (arrondissement), do các Chánh tham biện (administrateur) người Pháp đứng đầu. Tuy vậy, chính quyền thực dân Pháp vẫn giữ lại cơ cấu hành chính cấp thấp như tổng, thôn.

Trên địa bàn tỉnh Gia Định cũ (đến ngày 16 tháng 8 năm 1867 đổi tên thành tỉnh Sài Gòn), chính quyền Pháp thành lập tuần tự các đơn vị hành chính trực thuộc, trong đó có Khu thanh tra Sài Gòn và thành phố (Ville) Sài Gòn.

Ngày 29 tháng 10 năm 1866, khu thanh tra Sài Gòn nhận thêm phần đất của khu thanh tra Ngãi An giải thể nhập vào (khu thanh tra này thành lập từ ngày 14 tháng 3 năm 1866, trên địa bàn huyện Ngãi An cũ thuộc phủ Phước Long, tỉnh Biên Hòa; lúc bấy giờ huyện này đã giải thể, địa bàn nhập vào huyện Bình An cùng phủ từ năm 1862). Khi nhập vào khu thanh tra Sài Gòn, huyện Ngãi An còn bốn tổng trực thuộc (An Bình, An Điền, An Thổ, An Thủy); riêng tổng Chánh Thiện giải thể vào ngày 29 tháng 10 năm 1866, địa bàn nhập vào các tổng kế cận. Đến ngày 9 tháng 10 năm 1868, huyện Ngãi An tách ra lập khu thanh tra độc lập, mang tên gọi là khu thanh tra Thủ Đức; nhưng đến ngày 30 tháng 12 năm 1868, lại giải thể tái nhập vào khu thanh tra Sài Gòn.

Năm 1871, các thôn đổi thành làng. Năm 1874, Tổng thống Pháp Jules Grévy ký sắc lệnh thành lập thành phố Sài Gòn (ville saigon). Tòa tham biện hạt Sài Gòn chuyển từ trung tâm thành phố Sài Gòn đặt tại làng Bình Hòa,[4] tại vị trí ngày nay là trụ sở Ủy ban Nhân dân quận Bình Thạnh.

Thời Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1955, quận Thủ Đức có 19 làng:

  • Tổng An Bình có 05 làng: Bình Trưng, Thạnh Mỹ Lợi, Phú Hữu, An Phú và An Khánh Xã;
  • Tổng An Điền có 04 làng: Linh Xuân Thôn, Phước Long Xã, Linh Đông Xã và Tăng Nhơn Phú;
  • Tổng An Thổ có 03 làng: An Bình Xã, Hiệp Bình Xã và Tam Bình Xã;
  • Tổng An Thủy có 03 làng: Bình An, Đông Hòa Xã và Tân Đông Hiệp;
  • Tổng Long Vĩnh Hạ có 04 làng: Long Thạnh Mỹ, Long Trường, Long Phước Thôn và Long Bình.

Sau năm 1956, các làng gọi là xã. Quận lỵ Thủ Đức đặt tại xã Linh Đông Xã.

Năm 1957, giải thể tổng An Thổ của quận Thủ Đức; xã An Bình Xã thuộc tổng này sáp nhập vào tổng An Thủy, hai xã còn lại: Hiệp Bình Xã và Tam Bình Xã nhập vào tổng An Điền. Như thế lúc nảy tổng An Thủy có 04 xã, tổng An Điền có 06 xã. Cắt tổng Long Vĩnh Hạ với bốn xã: Long Thạnh Mỹ, Long Trường, Long Phước Thôn và Long Bình, cùng tổng An Thủy với bốn xã: Bình An, An Bình Xã, Đông Hòa Xã và Tân Đông Hiệp, chuyển sang thuộc quận Dĩ An, tỉnh Biên Hòa. Như thế quận Thủ Đức còn 11 xã.

Năm 1962, quận Dĩ An trả lại tổng Long Vĩnh Hạ với bốn xã: Long Thạnh Mỹ, Long Trường, Long Phước Thôn và Long Bình cho quận Thủ Đức. Như thế lúc này quận Thủ Đức có 15 xã.

Từ năm 1962, chính quyền Việt Nam Cộng hòa bỏ dần, đến năm 1965 bỏ hẳn cấp hành chính tổng, các xã trực tiếp thuộc quận.

Năm 1966, do cắt xã An Khánh Xã nhập vào Đô thành Sài Gòn, nên quận Thủ Đức còn 14 xã. Địa bàn xã An Khánh Xã cũ được chia thành 02 phường: An Khánh và Thủ Thiêm cùng thuộc quận 1 của Đô thành Sài Gòn. Đầu năm 1967, lại tách 02 phường: An Khánh và Thủ Thiêm lập quận 9 (quận Chín) thuộc Đô thành Sài Gòn.

Năm 1972, lập xã Phước Bình thuộc quận Thủ Đức. Như thế quận Thủ Đức có 15 xã. Cho đến ngày 29 tháng 4 năm 1975, quận Thủ Đức gồm 15 xã trực thuộc: Tam Bình Xã, Long Bình, Long Phước Thôn, Long Thạnh Mỹ, Bình Trưng, Thạnh Mỹ Lợi, Phú Hữu, An Phú, Linh Xuân Thôn, Phước Long Xã, Linh Đông Xã, Long Trường, Tăng Nhơn Phú, Hiệp Bình Xã, Phước Bình.

Trước năm 1975, quận Thủ Đức có diện tích vào khoảng 200 km² và gồm có tất cả 15 xã với dân số là 184.989 người.[5]

Giai đoạn 1975-1996[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam tiếp quản Đô thành Sài Gòn và các vùng lân cận vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngày 3 tháng 5 năm 1975 thành phố Sài Gòn - Gia Định được thành lập. Theo nghị quyết ngày 9 tháng 5 năm 1975 của Ban Chấp hành Đảng bộ Đảng Lao động Việt Nam thành phố Sài Gòn - Gia Định, huyện Thủ Đức được thành lập trên cơ sở toàn bộ quận Thủ Đức cũ thời Việt Nam Cộng hòa.

Ngày 20 tháng 5 năm 1976, tổ chức hành chánh thành phố Sài Gòn - Gia Định được sắp xếp lần hai (theo quyết định số 301/UB ngày 20 tháng 5 năm 1976 của Ủy ban Nhân dân Cách mạng thành phố Sài Gòn - Gia Định). Theo đó, quận 9 (quận Chín) bị giải thể, hai phường trực thuộc chuyển thành hai xã: Thủ Thiêm và An Khánh nhập vào huyện Thủ Đức cùng thuộc Thành phố Sài Gòn - Gia Định.

Ngày 2 tháng 7 năm 1976, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VI, kỳ họp thứ 1 chính thức đổi tên thành phố Sài Gòn - Gia Định thành Thành phố Hồ Chí Minh. Huyện Thủ Đức trở thành huyện trực thuộc Thành phố Hồ Chí Minh.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, chính quyền chuyển xã Linh Đông Xã thành thị trấn Thủ Đức; đổi tên năm xã: Tam Bình Xã thành Tam Bình, Long Phước Thôn thành Long Phước, Linh Xuân Thôn thành Linh Xuân, Phước Long Xã thành Phước Long và Hiệp Bình Xã thành Hiệp Bình, Đến tháng 5 năm 1976, huyện Thủ Đức nhận hai xã: An Khánh và Thủ Thiêm vốn là hai phường của quận 9 (quận Chín) giải thể, nhập về. Như thế huyện Thủ Đức gồm 1 thị trấn Thủ Đức và 16 xã: An Khánh, An Phú, Bình Trưng, Hiệp Bình, Linh Xuân, Long Bình, Long Phước, Long Thạnh Mỹ, Long Trường, Phú Hữu, Phước Bình, Phước Long, Tam Bình, Tăng Nhơn Phú, Thạnh Mỹ Lợi, Thủ Thiêm.

Ngày 14 tháng 2 năm 1987, theo Quyết định số 33-HĐBT[6] của Hội đồng Bộ trưởng, huyện Thủ Đức thành lập thêm các xã mới trực thuộc như sau:

1.Chia xã Tam Bình thành ba xã lấy tên là xã Tam Bình, xã Tam Phú và xã Linh Đông; tách 221 hécta đất với 6.410 nhân khẩu của thị trấn Thủ Đức để sáp nhập vào xã Linh Đông.

a) Xã Tam Bình có 11.816 nhân khẩu với 895 hécta đất.

b) Xã Tam Phú có 267,5 hécta đất với 10.125 nhân khẩu.

c) Xã Linh Đông có 227 hécta đất với 13.591 nhân khẩu.

2. Chia xã Tăng Nhơn Phú thành ba xã lấy tên là xã Tăng Nhơn Phú, xã Hiệp Phú và xã Tân Phú; tách 6,7 hécta đất của xã Tăng Nhơn Phú để sáp nhập vào xã Phước Long.

a) Xã Tăng Nhơn Phú có 825 hécta đất với 8.878 nhân khẩu.

b) Xã Hiệp Phú có 235,7 hécta đất với 9.442 nhân khẩu.

c) Xã Tân Phú có 785,2 hécta đất với 9.084 nhân khẩu.

3. Chia xã Linh Xuân thành hai xã lấy tên là xã Linh Xuân và xã Linh Trung; tách 141 hécta đất với 2.665 nhân khẩu của thị trấn Thủ Đức để sáp nhập vào xã Linh Xuân; tách một phần ấp 5 với 32 hécta đất cùng 1.069 nhân khẩu và ấp 1 với 260 hécta đất cùng 2.920 nhân khẩu của xã Linh Trung để sáp nhập vào thị trấn Thủ Đức.

a) Xã Linh Xuân có 284 hécta đất với 8.116 nhân khẩu.

b) Xã Linh Trung có 472 hécta đất với 9.114 nhân khẩu.

4. Tách 14,17 hécta đất với 232 nhân khẩu của thị trấn Thủ Đức để sáp nhập vào xã Phước Long; tách 52,7 hécta đất với 2.641 nhân khẩu của xã Phước Long để sáp nhập vào thị trấn Thủ Đức.

a) Thị trấn Thủ Đức có 319 hécta đất với 31.347 nhân khẩu.

b) Xã Phước Long có 1.172 hécta đất với 16.772 nhân khẩu.

5. Chia xã Hiệp Bình thành hai xã lấy tên là xã Hiệp Bình Phước và xã Hiệp Bình Chánh.

a) Xã Hiệp Bình Phước có 749 hécta đất với 8.441 nhân khẩu.

b) Xã Hiệp Bình Chánh có 628 hécta đất với 9.610 nhân khẩu.

Như thế lúc này huyện Thủ Đức có 01 thị trấn và 22 xã.

Giai đoạn 1997-nay[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 6 tháng 1 năm 1997, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 03-CP[7] về việc giải thể huyện Thủ Đức cũ và thành lập các quận, phường mới thuộc thành phố Hồ Chí Minh như sau:[8]

I. Thành lập Quận Thủ Đức và các phường thuộc Quận Thủ Đức:

1. Thành lập Quận Thủ Đức trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của các xã Linh Đông, Linh Xuân, Linh Trung, Tam Bình, Tam Phú, Hiệp Bình Phước, Hiệp Bình Chánh, thị trấn Thủ Đức, 55 ha diện tích tự nhiên và 366 nhân khẩu của xã Hiệp Phú; 298 ha diện tích tự nhiên và 3.188 nhân khẩu của xã Tân Phú; 367 ha diện tích tự nhiên và 6.651 nhân khẩu của xã Phước Long, thuộc huyện Thủ Đức.

Quận Thủ Đức có 4.726,5 ha diện tích tự nhiên và 163.394 nhân khẩu.

2. Thành lập các phường thuộc Quận Thủ Đức:

a) Thành lập phường Linh Đông trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của xã Linh Đông, gồm 259 ha và 19.206 nhân khẩu.

b) Thành lập phường Hiệp Bình Chánh trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của xã Hiệp Bình Chánh, gồm 626 ha và 16.508 nhân khẩu.

c) Thành lập phường Hiệp Bình Phước trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của xã Hiệp Bình Phước, gồm 766 ha và 12.354 nhân khẩu.

d) Thành lập phường Tam Phú trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của xã Tam Phú, gồm 298 ha và 12.926 nhân khẩu.

e) Thành lập phường Linh Xuân trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số xã Linh Xuân, gồm 382,5 ha và 13.666 nhân khẩu.

f) Thành lập phường Linh Chiểu trên cơ sở 130 ha diện tích tự nhiên và 11.576 nhân khẩu của thị trấn Thủ Đức.

Phường Linh Chiểu có 130 ha diện tích tự nhiên và 11.576 nhân khẩu.

g) Thành lập phường Trường Thọ trên cơ sở 367 ha diện tích tự nhiên và 6.651 nhân khẩu của xã Phước Long; 42 ha diện tích tự nhiên và 13.510 nhân khẩu của thị trấn Thủ Đức.

Phường Trường Thọ có 409 ha diện tích tự nhiên và 20.161 nhân khẩu.

h) Thành lập phường Bình Chiểu trên cơ sở 549 ha diện tích tự nhiên và 12.288 nhân khẩu của xã Tam Bình.

Phường Bình Chiểu có 549 ha diện tích tự nhiên và 12.288 nhân khẩu.

i) Thành lập phường Linh Tây trên cơ sở 61 ha diện tích tự nhiên và 10.158 nhân khẩu của thị trấn Thủ Đức; 80 ha diện tích tự nhiên và 1.680 nhân khẩu của xã Linh Trung.

Phường Linh Tây có 141 ha diện tích tự nhiên và 11.838 nhân khẩu.

k) Thành lập phường Bình Thọ trên cơ sở 108 ha diện tích tự nhiên và 10.906 nhân khẩu của thị trấn Thủ Đức.

Phường Bình Thọ có 108 ha diện tích tự nhiên và 10.906 nhân khẩu.

l) Thành lập phường Tam Bình trên cơ sở 341 ha diện tích tự nhiên và 7.831 nhân khẩu của xã Tam Bình.

Phường Tam Bình có 341 ha diện tích tự nhiên và 7.831 nhân khẩu.

m) Thành lập phường Linh Trung trên cơ sở 328 ha diện tích tự nhiên và 10.630 nhân khẩu của xã Linh Trung; 298 ha diện tích tự nhiên và 3.138 nhân khẩu của xã Tân Phú; 55 ha diện tích tự nhiên và 366 nhân khẩu của xã Hiệp Phú.

Phường Linh Trung có 681 ha diện tích tự nhiên và 14.134 nhân khẩu.

II. Thành lập quận 2 và các phường thuộc quận 2:

1.Thành lập Quận 2 trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của các xã An Phú, An Khánh, Thủ Thiêm, Bình Trưng, Thạnh Mỹ Lợi thuộc huyện Thủ Đức.

Quận 2 có 5.020 ha diện tích tự nhiên và 86.027 nhân khẩu.

2.Thành lập các phường thuộc Quận 2 như sau:

a) Thành lập phường An Phú trên cơ sở 1.042 ha diện tích tự nhiên và 6.724 nhân khẩu của xã An Phú.

Phường An Phú có 1.042 ha diện tích tự nhiên và 6.724 nhân khẩu.

b) Thanh lập phường Thảo Điền trên cơ sở 375 ha diện tích tự nhiên và 6.714 nhân khẩu của xã An Phú.

Phường Thảo Điền có 375 ha diện tích tự nhiên và 6.714 nhân khẩu.

c) Thành lập phường An Khánh trên cơ sở 169 ha diện tích tự nhiên và 12.865 nhân khẩu của xã An Khánh.

Phường An Khánh có 169 ha diện tích tự nhiên và 12.865 nhân khẩu.

d) Thành lập phường Bình Khánh trên cơ sở 226 ha diện tích tự nhiên và 6.580 nhân khẩu của xã An Khánh.

Phường Bình Khánh có 226 ha diện tích tự nhiên và 6.580 nhân khẩu.

e) Thành lập phường Bình An trên cơ sở 169 ha diện tích tự nhiên và 6.774 nhân khẩu của xã An Khánh.

Phường Bình An có 169 ha diện tích tự nhiên và 6.774 nhân khẩu.

f) Thành lập phường Thủ Thiêm trên cơ sở 135 ha diện tích tự nhiên và 9.325 nhân khẩu của xã Thủ Thiêm.

Phường Thủ Thiêm có 135 ha diện tích tự nhiên và 9.325 nhân khẩu.

g) Thành lập phường An Lợi Đông trên cơ sở 385 ha diện tích tự nhiên và 5.068 nhân khẩu của xã Thủ Thiêm.

Phường An Lợi Đông có 385 ha diện tích tự nhiên và 5.068 nhân khẩu.

h) Thành lập phường Bình Trưng Tây trên cơ sở 222 ha diện tích tự nhiên và 7.832 nhân khẩu của xã Bình Trưng.

Phường Bình Trưng Tây có 222 ha diện tích tự nhiên và 7.832 nhân khẩu.

i) Thành lập phường Bình Trưng Đông trên cơ sở 345 ha diện tích tự nhiên và 10.496 nhân khẩu của xã Bình Trưng.

Phường Bình Trưng Đông có 345 ha diện tích tự nhiên và 10.496 nhân khẩu.

k) Thành lập phường Cát Lái trên cơ sở 669 ha diện tích tự nhiên và 6.567 nhân khẩu của xã Thạnh Mỹ Lợi.

Phường Cát Lái có 669 ha diện tích tự nhiên và 6.567 nhân khẩu.

l) Thành lập phường Thạnh Mỹ Lợi trên cơ sở 1.283 ha diện tích tự nhiên và 7.091 nhân khẩu của xã Thạnh Mỹ Lợi.

Phường Thạnh Mỹ Lợi có 1.283 ha diện tích tự nhiên và 7.091 nhân khẩu.

III. Thành lập quận 9 và các phường thuộc quận 9:

1. Thành lập Quận 9 trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số các xã Long Bình, Long Thạnh Mỹ, Tăng Nhơn Phú, Long Phước, Long Trường, Phú Hữu, Phước Bình, 484 ha diện tích tự nhiên và 15.794 nhân khẩu còn lại của xã Tân Phú, 891 ha diện tích tự nhiên và 16.868 nhân khẩu còn lại của xã Phước Long, 172 ha diện tích tự nhiên và 13.493 nhân khẩu của xã Hiệp Phú, 140 ha diện tích tự nhiên của xã Bình Trưng, thuộc huyện Thủ Đức.

Quận 9 có 11.362 ha diện tích tự nhiên và 126.220 nhân khẩu.

2. Thành lập các phường thuộc quận 9 như sau:

a) Thành lập phường Phước Long A trên cơ sở 470 ha diện tích tự nhiên và 8.002 nhân khẩu của xã Phước Long.

Phường Phước Long A có 409 ha diện tích tự nhiên và 9.182 nhân khẩu.

b) Thành lập phường Phước Long B trên cơ sở 392 ha diện tích tự nhiên và 8.002 nhân khẩu của xã Phước Long.

Phường Phước Long B có 392 ha diện tích tự nhiên và 8.002 nhân khẩu.

c) Thành lập phường Tăng Nhơn Phú A trên cơ sở 401 ha diện tích tự nhiên và 12.160 nhân khẩu của xã Tăng Nhơn Phú; 43 ha diện tích tự nhiên và 707 nhân khẩu của xã Tân Phú và 8 ha diện tích tự nhiên của xã Long Thạnh Mỹ.

Phường Tăng Nhơn Phú A có 452 ha diện tích tự nhiên và 12.867 nhân khẩu.

d) Thành lập phường Tăng Nhơn Phú B trên cơ sở 445 ha diện tích tự nhiên và 5.986 nhân khẩu của xã Tăng Nhơn Phú.

Phường Tăng Nhơn Phú B có 445 ha diện tích tự nhiên và 5.986 nhân khẩu.

e) Thành lập phường Long Trường trên cơ sở 1.220 ha diện tích tự nhiên và 5.563 nhân khẩu của xã Long Trường.

Phường Long Trường có 1.220 ha diện tích tự nhiên và 5.563 nhân khẩu.

f) Thành lập phường Trường Thạnh trên cơ sở 1.034 ha diện tích tự nhiên và 4.785 nhân khẩu của xã Long Trường.

Phường Trường Thạnh có 1.034 ha diện tích tự nhiên và 4.785 nhân khẩu.

g) Thành lập phường Phước Bình trên cơ sở 60 ha diện tích tự nhiên và 15.256 nhân khẩu của xã Phước Bình; 28 ha diện tích tự nhiên và 1.600 nhân khẩu của xã Phước Long.

Phường Phước Bình có 88 ha diện tích tự nhiên và 16.856 nhân khẩu.

h) Thành lập phường Tân Phú trên cơ sở 392 ha diện tích tự nhiên và 14.106 nhân khẩu của xã Tân Phú; 90 ha diện tích tự nhiên và 1.115 nhân khẩu của xã Long Thạnh Mỹ.

Phường Tân Phú có 482 ha diện tích tự nhiên và 15.221 nhân khẩu.

i) Thành lập phường Hiệp Phú trên cơ sở 172 ha diện tích tự nhiên và 13.493 nhân khẩu của xã Hiệp Phú; 49 ha diện tích tự nhiên và 981 nhân khẩu của xã Tân Phú.

Phường Hiệp Phú có 221 ha diện tích tự nhiên và 14.474 nhân khẩu.

k) Thành lập phường Long Thạnh Mỹ trên cơ sở 1.299 ha diện tích tự nhiên và 11.233 nhân khẩu của xã Long Thạnh Mỹ.

Phường Long Thạnh Mỹ có 1.299 ha diện tích tự nhiên và 11.233 nhân khẩu.

l) Thành lập phường Long Bình trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của xã Long Bình, gồm 1.677 ha và 12.068 nhân khẩu.

m) Thành lập phường Long Phước trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của xã Long Phước, gồm 2.349 ha và 6.042 nhân khẩu.

n) Thành lập phường Phú Hữu trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của xã Phú Hữu, gồm 1.073 ha và 3.939 nhân khẩu; 140 ha diện tích tự nhiên của xã Bình Trưng; 28 ha diện tích tự nhiên của xã An Phú.

Phường Phú Hữu có 1.241 ha diện tích tự nhiên và 3.939 nhân khẩu.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện có 1 thị trấn Thủ Đức và 22 xã: An Khánh, An Phú, Bình Trưng, Hiệp Bình Chánh, Hiệp Bình Phước, Hiệp Phú, Linh Đông, Linh Trung, Linh Xuân, Long Bình, Long Phước, Long Thạnh Mỹ, Long Trường, Phú Hữu, Phước Bình, Phước Long, Tam Bình, Tam Phú, Tân Phú, Tăng Nhơn Phú, Thạnh Mỹ Lợi, Thủ Thiêm.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Huỳnh Minh (2006). Gia Định xưa. Nhà xuất bản Văn Hóa Thông tin. tr. tr. 93–94. 
  2. ^ Nguồn: "Chợ Thủ Đức và ngôi nhà thờ hoang phế" đăng trên Việt Nam.net ngày 20/01/2012 [1].
  3. ^ Hội đồng Trị Sự Nguyển Phúc Tộc. Nguyễn Phúc tộc thế phả: thủy tổ phả, vương phả, đế phả. Huế: Nhà xuất bản Thuận Hóa, 1996. Tr. 149.
  4. ^ Nguyễn Đình Đầu, Địa danh Phú Nhuận, Tạp chí Xưa và Nay.
  5. ^ Huỳnh Minh. Gia Định xưa và nay. Sài Gòn: Tác giả xuất bản, 1973. Tr. 429.
  6. ^ “Quyết định 33”. Truy cập 7 tháng 2 năm 2015. 
  7. ^ Công Báo, ngày 15 tháng 03 năm 1997, tr. 283-289
  8. ^ Giới thiệu về Quận Thủ Đức, Cổng thông tin điện tử Sài Gòn.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]