Thủ tướng Hungary

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Thủ tướng Hungary
Magyarország miniszterelnöke
Coat of Arms of Hungary (oak and olive branches).svg
Huy hiệu Thủ tướng
Viktor Orbán 2018.jpg
Đương nhiệm
Viktor Orbán

từ 29 tháng 5 năm 2010
Chức vụNgài Thủ tướng (thông thường)
His Excellency (ngoại giao)
Thành viên của
Báo cáo tớiQuốc hội
Đề cử bởiTổng thống Hungary
Bổ nhiệm bởiQuốc hội
Nhiệm kỳ4 năm, không giới hạn nhiệm kỳ
Người đầu tiên giữ chứcCount Lajos Batthyány
Thành lập17 tháng 3 năm 1848
PhóPhó Thủ tướng
LươngHUF 25,680,000 annual, including MP's salary[1]
Trụ sởKarmelita Monastery (Budapest, Színház Street 5-7)
WebsiteThe Prime Minister's Office

Thủ tướng Hungary (tiếng Hungary: miniszterelnök) là người đứng đầu chính phủ ở Hungary. Thủ tướng và Nội các chịu trách nhiệm chung về các chính sách và hành động của họ trước Quốc hội Hungary, cho đảng chính trị của họ và cuối cùng là cho cử tri. Người hiện tại nắm giữ chức vụ này là Viktor Orbán, lãnh đạo của Fidesz - Liên minh dân sự Hungary, phục vụ từ ngày 29 tháng 5 năm 2010 [2]

Theo Hiến pháp Hungary, Thủ tướng được Tổng thống Hungary đề cử và được Quốc hội bầu. Về mặt hiến pháp, Tổng thống được yêu cầu đề cử lãnh đạo đảng chính trị giành đa số ghế trong Quốc hội làm Thủ tướng.[3] Nếu không có đảng nào chiếm đa số, Tổng thống tổ chức cuộc gặp với các nhà lãnh đạo của tất cả các đảng được đại diện trong Quốc hội và chỉ định người có khả năng chỉ huy đa số trong Hội đồng, người sau đó được bầu chính thức bởi đa số thành viên Quốc hội. Trong thực tế, khi tình huống này xảy ra, Thủ tướng là người lãnh đạo đảng giành được nhiều phiếu trong cuộc bầu cử, hoặc lãnh đạo của đối tác cao cấp trong liên minh cầm quyền. Thủ tướng có vai trò lãnh đạo trong ngành hành pháp theo Hiến pháp Hungary, nơi trao cho ông quyền "xác định chính sách chung của Chính phủ". Thủ tướng chọn các bộ trưởng nội các và có quyền bãi nhiệm họ. Các ứng cử viên nội các xuất hiện trước một hoặc nhiều ủy ban quốc hội trong các phiên điều trần mở tư vấn. Sau đó, họ phải vượt qua một cuộc bỏ phiếu của Nghị viện và được Tổng thống chính thức phê chuẩn.

Chức danh chính thức[sửa | sửa mã nguồn]

Chức danh người đứng đầu chính phủ Hungary bằng tiếng Hungary là miniszterelnök. Dịch theo nghĩa đen, điều này có nghĩa là "Minister-President" hay "Chủ tịch Bộ trưởng ".

Tuy nhiên, vì từ "Prime Minister" hay "Premier" là danh hiệu thông thường hơn trong hệ thống nghị viện của một người đứng đầu chính phủ ở các quốc gia nói tiếng Anh, nên hầu hết các nguồn tiếng Anh được dịch là "Prime Minister" (thủ tướng).

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Chân dung Bá tước Lajos Batthyány của Miklós Barabás, 1848. Ông được bổ nhiệm làm Thủ tướng đầu tiên của Hungary.

Palatine của Hungary[sửa | sửa mã nguồn]

Các palatine (tiếng Latinh: comes palatii, comes palatinus, sau này palatinus (regni), tiếng Hungary: nádorispán/ nádor, tiếng Slovak: nádvorný župan/ nádvorný špán, sau: palatín / nádvorník, tiếng Đức: Palatin) là chức sắc cao nhất ở Vương quốc Hungary sau nhà vua (mộtThủ tướng quyền lực và thẩm phán tối cao) từ khi trở thành vương quốc năm 1848 - 1918.

Ban đầu, trên thực tế, ông là đại diện của nhà vua, sau này là phó tướng (phó vương). Trong những thế kỷ đầu của vương quốc, ông được nhà vua bổ nhiệm, sau đó được bầu bởi Hạ viện của Vương quốc Hungary. Sau khi Habsburgs củng cố vững chắc việc nắm giữ Hungary, chức vụ lại trở thành một vị trí được bổ nhiệm. Cuối cùng, chức vụ đã trở thành di truyền trong dòng dõi của triều đại Habsburg sau khi vua Francis bổ nhiệm anh trai Joseph.

Thiết lập chức vụ[sửa | sửa mã nguồn]

Trong cuộc Cách mạng Hungary năm 1848, các nhà cách mạng muốn tạo ra một nội các Hungary độc lập với Đế quốc Áo và Thủ tướng Buda (là văn phòng của Toàn quyền Hoàng gia). Một trong 12 điểm cho biết:

"2. Một chính phủ có trách nhiệm ở Buda - Pest."

Ferdinand V bổ nhiệm Bá tước Lajos Batthyány cho vị trí Thủ tướng Hungary vào ngày 17 tháng 3 năm 1848. Chính phủ được gọi là Bộ, khác với cách nhìn hiện tại. Các bộ được gọi là các sở. Batthyány đã từ chức vào ngày 2 tháng 10 năm 1848, ông thay thế Lajos Kossuth làm Chủ tịch Ủy ban Quốc phòng. Cơ quan điều hành này đã không được phân bổ danh mục. Vào tháng 4 năm 1849, khi người Hungary đã giành được nhiều thành công, sau khi lên tiếng về quân đội, Kossuth đã ban hành Tuyên ngôn Độc lập Hungary nổi tiếng. Vào tháng Năm, Bertalan Szemere được bổ nhiệm làm Thủ tướng. Vị trí bị bỏ trống sau thất bại của cuộc chiến tự do.

Các cựu Thủ tướng còn sống[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến tháng 7 năm 2019, 5 cựu Thủ tướng Hungary còn sống. Viktor Orbán, người từng giữ chức Thủ tướng từ năm 1998 đến 2002, hiện đang phục vụ và do đó không được đưa vào danh sách này.

Tên Nhiệm kỳ Ngày sinh
Miklós Németh 1988 – 1990 24 tháng 1, 1948 (71 tuổi)
Péter Boross 1993 – 1994 27 tháng 8, 1928 (91 tuổi)
Péter Medgyessy 2002 – 2004 19 tháng 10, 1942 (77 tuổi)
Ferenc Gyurcsány 2004 – 2009 4 tháng 6, 1961 (58 tuổi)
Gordon Bajnai 2009 – 2010 5 tháng 3, 1968 (51 tuổi)
  1. ^ “How much cost is the PM's work? And others? 2,14 million HUF per month, annually 25,68 million.(Hungarian)”. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2018. 
  2. ^ “Members of the Government”. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2018. 
  3. ^ “The Fundamental Law of Hungary (English)” (PDF). Hungarian State. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2017.