Thủy điện Sambor

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
Thủy điện Sambor
Thủy điện Sambor trên bản đồ Campuchia
Thủy điện Sambor
Vị trí Thủy điện Sambor
Quốc gia  Campuchia
Vị trí Sambour tỉnh Kratié
Tọa độ 12°47′B 105°57′Đ / 12,783°B 105,95°Đ / 12.783; 105.950Tọa độ: 12°47′B 105°57′Đ / 12,783°B 105,95°Đ / 12.783; 105.950
Tình trạng Dự kiến
Ngày khánh thành 2020 (est.)
Chi phí xây dựng US $4.947 triệu
Đập và đập tràn
Loại đập Đập đất xen đá và beton
Ngăn Sông Mêkông
Chiều cao 56 m (184 ft)
Chiều dài 18.002 m (59.062 ft)
Dung tích đập tràn 17.668 m3/s (623.900 cu ft/s)
Hồ chứa
Tạo thành Sambor Hydropower Dam Reservoir
Tổng dung tích 3.794 km3 (3,076×109 acre·ft)
Diện tích bề mặt 620 km2 (240 sq mi)
Trạm năng lượng
Đầu thủy lực 16,5 m
Tua bin 40 x 65 MW (87.000 hp)
Công suất lắp đặt 2.600 MW (3.500.000 hp) (max. planned)
Phát điện hàng năm 11,740 GWh (42,26 TJ)

Thủy điện Sambor là dự án thủy điện đề xuất xây dựng trên dòng sông Mêkông ở vùng đất phía nam làng Sambor huyện Sambour tỉnh Kratié, đông bắc Campuchia [1][2]. Đó là địa điểm của ghềnh Sambor nổi tiếng, cản trở giao thông đường thủy đầu tiên khi đi ngược dòng sông Mêkông.

Thủy điện Sambor có công suất lắp máy dự kiến 2.600 MW với 40 tổ máy. Nếu được xây dựng, nó sẽ là đập thấp nhất trên dòng chính sông Mêkông, và là công trình lớn nhất ở Campuchia.

Chính phủ Campuchia coi đập là nguồn thu nhập quan trọng, và nếu xây đập thì dự kiến ​​sẽ bán 70% điện năng phát điện cho Việt Nam và 10% cho Thái Lan. Sự cân bằng sẽ được hướng tới các thị trường năng lượng trong nước. Việc xây dựng đập bị chống lại bởi một số tổ chức phi chính phủ và các nhóm xã hội dân sự [3].

Nguy cơ[sửa | sửa mã nguồn]

Chuyên gia độc lập về sinh thái Mê Kông, Nguyễn Hữu Thiện, cho biết, điều đáng lo ngại nhất là vỡ đập dây chuyền. Đập Sambor gánh chịu rủi ro của tất cả các đập phía trên, bất cứ đập nào phía trên vỡ đều cuối cùng ảnh hưởng đến Sambor. Sambor theo phương án ban đầu có chiều ngang 18 km, cao 56 m, có diện tích hồ chứa 620 km2, tích trữ nước ở cao trình 40 m trên mực nước biển, trong khi cao trình của đồng bằng sông Cửu long (ĐBSCL) là chỉ khoảng 1 mét trên mực nước biển. Nếu phía trên có đập vỡ lùa nước xuống vỡ dây chuyền thì Sambor sẽ vỡ và khi đó ĐBSCL sẽ bị dìm trong nước[4].

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nette, Andrew (ngày 1 tháng 1 năm 2008). =45278 “Opting For The Big Dam”. Inter Press Service. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2018. 
  2. ^ Bản đồ tỷ lệ 1:500.000 tờ D-48-D. Cục Đo đạc và Bản đồ, 2004.
  3. ^ Osborne, Milton (2009), The Mekong — River Under Threat (PDF), Lowy Institute for International Policy, tr. 34, truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2018 
  4. ^ Vỡ đập thủy điện ở Lào: ĐBSCL 'phập phồng' lo thủy điện trên dòng Mê Kông, thanhnien.vn, truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2018 

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]