Thừa vụ tào

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Thừa vụ tào (承務曹, Imperial Diarists Section) là một trong 4 tào Nội các (Bí thư tào, Biểu bạ tào, Thừa vụ tào, Thượng bảo tào) thời Nguyễn Minh Mạng. Thừa vụ tào đọc bản tấu và giúp vua soạn lời phê. Ngoài ra, các trách nhiệm của Thừa vụ tào còn là ghi chép lời tâu, lời phê, chỉ dụ, coi giữ nghiên bút Thượng phương. Ghi chép lời nói của vua khi triều hội hoặc khi tuần hạnh cùng chương, sớ, tấu văn của quan tướng. Lưu giữ các sổ dâng ngự dược, nhật ký học tập của Hoàng tử, các văn bản quy định, chương, sớ, án kiện toàn quốc.[1][2]

Tiền thân Thừa vụ tào là Ký chú tào, lập vào năm Minh Mạng 10 (1829) khi cơ quan Nội Các được thành lập.

Năm Minh Mạng 17 (1836), Ký chú tào đổi tên là Thừa vụ tào.

Năm Thiệu Trị 4 (1844), Thừa vụ tào được đổi tên thành Ty luân sở.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Cải cách văn phòng của Hoàng đế thời Nguyễn sơ”. 
  2. ^ Từ điển chức quan Việt Nam, Đỗ Văn Ninh, 2002, trang 380 mục 709. Ký chú tào