The Amazing Race 26

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
The Amazing Race 26
Phát sóng 25 tháng 2, 2015 (2015-02-25)[1]
– 15 tháng 5, 2015 (2015-05-15)[2]
Ngày quay 12 tháng 11, 2014 (2014-11-12)
– 6 tháng 12, 2014 (2014-12-06)
Đội vô địch Laura Pierson & Tyler Adams
Số châu lục đi qua 5
Số quốc gia đi qua 9
Chiều dài cuộc đua 35.000 dặm (56.000 km)
Số chặng 12
Thứ tự mùa
Season 25 ◄ Mùa này ► Season 27

The Amazing Race 26 là mùa thứ 26 của chương trình truyền hình thực tế đi vòng quanh thế giới - The Amazing Race. Trong cuộc đua có 11 đội đua với các cặp tình nhân hẹn hò (6 đội đã là tình nhân và 5 đội Tình nhân giấu mặt, sẽ gặp nhau ở đầu cuộc đua) sẽ cố gắng hoàn thành chặng đua vòng quanh thế giới để chiếm được 1 triệu đô la Mỹ tiền thưởng.

Mùa này được chiếu trên CBS cho năm 2014-15 với một tập đặc biệt chiếu 90 phút vào thứ Tư, 25/2/2015. Sau tập đầu, chương trình được chiếu như lịch chiếu của Mùa 25: Thứ 6 lúc 8 giờ tối trên ET. Chặng Chung Kết phát sóng vào ngày 15/5/2015.   [1][2]

Cặp đôi Tình nhân giấu mặt Laura Pierson & Tyler Adams, đến từ đội SoCal, đã thắng trong mùa giải The Amazing Race này.

Sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Quay phim[sửa | sửa mã nguồn]

Điểm bắt đầu của The Amazing Race 26 nằm ở ngoài Hồ Castaic, Los Angeles.

Mùa này trải qua 35.000 dặm (56.000 km), 5 châu lục, và 8 quốc gia, trong đó có các quốc gia như Japan, Thailand, Namibia, Đức, và Monaco.Trong một số chặng đua, một mật thư đặc biệt đã được có sẵn. Đội chọn các mật thư đặc biệt này nhận được một phần thưởng Ngày của Tình yêu, một cơ hội để tham gia vào hoạt động lãng mạn của cặp Tình nhân.[3]

Quyền Miễn loại tới từ mùa trước tiếp tục được mang tới mùa này nhưng nó không được sử dụng cũng như phát sóng. Nó có thể được các đội lấy được nếu như đội đó đạt được trong chặng 3 của cuộc đua bằng cách hoàn thành cả hai thử thách của Lựa chọn Kép.

Lần thứ hai trong suốt các mùa giải, 4 đội lại tiếp tục đấu với nhau để có thể về đích đầu tiên trong chặng chung kết. Tuy nhiên, người dẫn chương trình Phil Keoghan, đã loại 1 đội giữa chừng, và còn 3 đội tiếp tục đấu với nhau để giành được 1 triệu đô la Mỹ tiền thưởng.

Đội thi và phỏng vấn[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc phỏng vấn có cả hai cặp đôi tình nhân nổi tiếng là Vận động viên Olympic, tiếp theo là thành viên trong nhóm nhạc nổi tiếng những năm 80 New Kids on the Block là Jonathan Knight với bạn trai của anh ấy, Harley Rodgiguez. Mùa giải này là mùa giải đầu tiên trong lịch sử của phiên bản TAR Mỹ, hoặc bất kì một mùa giải TAR nào khác, là một mùa giải không có một đội toàn nữ nào.

Vào tháng 6 năm 2015, Jackie Ibarra và Jeff Weldon đã được coi như các thí sinh bổ sung cho mùa thứ 17 của chương trình thực tế Big Brother (Người giấu mặt); do Keoghan giới thiệu là làm 1 cặp cho cuộc chơi. Tuy nhiên, Weldon bị loại thứ 3 vào ngày 29. Ibarra cũng bị loại thứ tám vào ngày 57, và thích hợp để làm thành viên thứ trong chương trình TAR 26.

Thương mại[sửa | sửa mã nguồn]

TravelocityFord tiếp tục là nhà tài trợ của TAR mùa này. Fitbit là một nhà tài trợ mới của mùa này. Mỗi một đội được nhận 2 thiết bị của Fitbit, được dùng để hoàn thành các thử thách trong chặng 10. [4]

Kết quả[sửa | sửa mã nguồn]

Các đội sau đây đã tham gia vào cuộc đua (được liệt kê cùng với các mối quan hệ của họ và tên đội theo công bố của CBS).[3]

Đội Quan hệ Tên đội Thứ hạng từng chặng Thực hiện Vượt rào
1Nhật Bản 2Nhật Bản 3Thái Lan 4Thái Lan 5Đức 6
PhápMonaco
7Namibia 8Namibia 9Hà Lan 10Peru 11Peru 125Hoa Kỳ
Laura & Tyler Đang hẹn hò SoCal 3 2 4 4 6 6 2 1 1 4 3 1 Laura 5, Tyler 6
Jelani & Jenny Đang hẹn hò The Legal Team 1 1 3 7 4 5 4 4 ε4 3 2 2 2 Jelani 6, Jenny 5
Hayley & Blair Đang hẹn hò Rx For Love 8 9 2 2 5 1 3 3 2 1 1 3 Hayley 5, Blair 6
Mike & Rochelle Đã quen nhau 8 tháng Truck Stop Love 7 ⊃ 8 1 6 7 3 5 5 4 3 4 4 Mike 6, Rochelle 4
Matt & Ashley Đã quen nhau ba năm→Đính hôn The Hairstylists 9 7 6 8 2 4 1 2 ⊃ 5 6 Matt 5, Ashley 3
Aly & Steve Đã quen nhau 7 tháng Sochi Love 4 3 5 3 1 2 6 6 Aly 3, Steve 3
Jeff & Jackie Đang hẹn hò JJ (Double J) 2 6 8 5 3 7 Jeff 2, Jackie 2
Bergen & Kurt Đang hẹn hò The Blonde Date 6 5 7 1 83 Bergen 2, Kurt 0
Harley & Jonathan Đã quen nhau 7 năm New Kid 5 4 9 9 Harley 1, Jonathan 1
Libby & CJ Đã quen nhau 10 năm Tuskegee 10 10 Libby 1, CJ 0
Jeff & Lyda Đã quen nhau 4 năm Flight Crew 11


1

Jeff 0, Lyda 0
  • Chữ màu đỏ thể hiện các đội bị loại do về chót.
  • Chữ màu xanh thể hiện các đội về chót trong một chặng không loại và phải thực hiện một thử thách Giảm tốc trong chặng tiếp theo.
  • Dấu ⊃ hoặc dấu ⋑ chỉ các đội sử dụng Rào cản/Rào cản kép; ⊂ hoặc ⋐ chỉ các đội bị Rào cản/Rào cản kép tác động; ⊂
    ⋑  chỉ các đội bị Rào cản tác động nhưng lại dùng Rào cản kép tác động đội khác.
  • Dấu ε chỉ các đội sử dụng Express Pass/Thẻ Ưu Tiên/Thẻ Thông Hành trong chặng đua đó.
  • Dấu gạch chân thể hiện sẽ không có thời gian nghỉ tại Trạm Dừng và tất cả các đội sẽ phải tiếp tục chặng đua. Đội về nhất Trạm Dừng đó sẽ vẫn nhận được một phần thưởng. Ngoài ra, sẽ không có đội nào bị loại khỏi cuộc đua vào cuối chặng, nhưng vào bất cứ thử thách nào của chặng kế tiếp, sẽ có một đội bị loại giữa chừng.
  1. Jeff và Lyda đã sử dụng Rào cản ẩn danh với Jeff và Jackie, tuy nhiên họ đã đi qua trạm có chứa Rào cản nên Rào cẩn ẩn danh của Jeff và Lyda vô tác dụng.
  2. Tại Trạm Dừng Chặng 3, Matt đã cầu hôn Ashley trước mặt mọi người, và Ashley đã đồng ý.
  3. Bergen & Kurt đã không lái xe của họ đi tới Schlafwagenfabrik do họ không biết lái xe, nên họ đã dùng taxi. Sau đó, họ nhận hình phạt 2 tiếng đồng hồ. Tuy nhiên, do không có xe nên họ đã không thể thực hiện nhiệm vụ. Sau đó, họ đã dùng tàu để đi tới nơi thực hiện Lựa chọn Kép. Phil đã tới ga tàu, thông báo với họ rằng tất cả các đội khác đã điểm danh tại Trạm Dừng, và họ bị loại.
  4. Jelani và Jenny đã sử dụng Thẻ Ưu Tiên để vượt qua Lựa chọn Kép tại chặng 8, tuy nhiên, họ phải quay lại thực hiện 1/2 thử thách của Lựa chọn Kép khi bị Matt và Ashley sử dụng Rào cản trên họ.
  5. Chặng 12 là chặng có 2 lần Vượt rào - Roadblocks và không có Lựa chọn Kép - Detour. Các thành viên sẽ thay nhau thực hiện từng thử thách Vượt rào.
  6. Mike & Rochelle đã bị loại giữa chừng trong Chặng Chung Kết sau khi đi qua Lộ Trình tới Chướng ngại vật.

Phần thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Các phần thưởng cho mỗi chặng được dành cho đội về nhất mỗi chặng đó. Phần thưởng Lãng mạn sẽ có một hoạt động lãng mạn trong các Trạm Dừng tiếp theo (tính từ Chặng 1), và các giấy mời sẽ có một cách ngẫu nhiên trong các Mật thư.

  • Chặng 1: Thẻ Thông Hành/Thẻ Ưu Tiên - loại thẻ giúp các đội chơi bỏ qua được tất cả thử thách trong một chặng (loại trừ Nhảy cóc)
  • Chặng 2: Đồng hồ Fitbit, một gói tập Fitness cho mỗi thành viên trong nhóm về nhất, được học 1 khóa nấu ăn với Siêu đầu bếp và một năm làm thành viên phòng thể dục Fitness và 1 năm nhận được hoa quả trái cây tươi sống.
    • Phần thưởng Lãng mạn - Date Night: Một chuyến du lịch tới Nhật Bản vào mùa xuân - Harley & Jonathan.
  • Chặng 3: Một chuyến du lịch tới Prague, Czech.
    • Phần thưởng Lãng mạn - Date Night: Một đêm nghỉ trên biển tại Trạm Dừng - Bergen & Kurt, đã nhường lại cho Matt & Ashley.
  • Chặng 4: Một chuyến du lịch tới Puerto Vallarta, Mexico.
    • Phần thưởng Lãng mạn - Date Night: Một đêm nghỉ trên du thuyền tại Chao Praya River - Laura & Tyler.
  • Chặng 5: Một chiếc xe Ford Focus 2015 cho đội về đích đầu tiên.
    • Phần thưởng Lãng mạn - Date Night: Một đêm nghỉ trên Tháp canh Bavarian - Mike & Rochelle.
  • Chặng 6: Một chuyến du lịch tới Cape Town, Châu Phi.
    • Phần thưởng Lãng mạn - Date Night: Một đêm nghỉ tại Khách sạn trên French Riviera.
  • Chặng 7: 5.000 đô la Mỹ cho mỗi thành viên trong nhóm.
    • Phần thưởng Lãng mạn - Date Night: Laura & Tyler.
  • Chặng 8: Một chuyến du lịch tới Queenstown,New Zealand
  • Chặng 9: Một chuyến du lịch tới Seoul,Hàn Quốc.
    • Phần thưởng Lãng mạn - Date Night: ? - Jelani & Jenny.
  • Chặng 10: Một bộ KIT Fitbit, bao gồm một dụng cụ tập luyện tại nhà hay 1 thẻ thành viên Fitness, tất cả các sản phẩm của Fitbit, 1 chiếc Smartphone và Laptop tự chọn.
    • Phần thưởng Lãng mạn - Date Night: Một bữa tối lãng mạn với thành tích cùng với mẹ - Jelani & Jenny.
  • Chặng 11: Một chuyến du lịch tới Goa,Ấn Độ.
  • Chặng 12: 1 triệu đô la Mỹ tiền thưởng.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “The Amazing Race New Season Preview S26”. CBS. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2015.  Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “preview” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  2. ^ a ă Dodge, Jeff (ngày 1 tháng 4 năm 2015). “CBS Sets 2015 Season Finale Dates for 'The Good Wife,' 'Survivor' and More”. BuddyTV. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2015.  Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “finale” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  3. ^ a ă “The Amazing Race 26 Will Be The Most Extreme Blind Date Ever”. CBS. Ngày 20 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2015. 
  4. ^ Denhart, Andy (ngày 8 tháng 12 năm 2014). “Amazing Race 26 route spoilers; cast includes NKOTB singer”. Reality Blurred. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2015.