The Celebrity Apprentice

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
The Celebrity Apprentice
Thecelebrityapprentice.png
Thể loạiTrò chơi truyền hình thực tế
Sáng lậpMark Burnett
Diễn viên
Hòa âm, phối khí
Nhạc dạo"For the Love of Money"
Thể hiện bởi The O'Jays
Quốc giaHoa Kỳ
Ngôn ngữTiếng Anh
Số mùa7
Số tập83
Sản xuất
Nhà sản xuất
Địa điểmThành phố New York, New York
Thời lượng
  • 60 phút (mùa 1)
  • 120 phút (mùa 2–)
Công ty sản xuất
Nhà phân phốiFremantleMedia Enterprises
Trình chiếu
Kênh trình chiếuNBC
Phát sóng3 tháng 1, 2008 (2008-01-03) – nay
Thông tin khác
Chương trình liên quan

The Celebrity Apprentice (Ngôi sao tập sự) là một trò chơi truyền hình thực tế Mỹ. Chương trình là một biến thể của The Apprentice, trò chơi truyền hình từng được dẫn bởi ông trùm bất động sản, doanh nhân và ngôi sao truyền hình Donald Trump. Cũng giống như phiên bản chính, nhạc hiệu mở màn của The Celebrity Apprentice là "For the love of money" (Vì tình yêu đồng tiền) thể hiện bởi The O'Jays. Tuy nhiên, khác với bản gốc, Celebrity Apprentice có sự tham gia của những người nổi tiếng với vai trò ứng viên tập sự thay vì người bình thường. Chương trình có cả những nhân vật đang nổi tiếng và những người nổi tiếng không xuất hiện trước công chúng trong một thời gian dài. Các ứng viên tham gia thi tài để giành lấy tiền thưởng cho một quỹ từ thiện mà họ chọn. Những người nổi tiếng trong chương trình hoạt động trong rất nhiều lĩnh vực: phim truyền hình hài, thể thao, âm nhạc, truyền hình thực tế, phát thành và nhiều lĩnh vực khác.

Các mùa của The Celebrity Apprentice nằm xem kẽ các mùa của phiên bản gốc The Apprentice, bao gồm mùa thứ nhất tới mùa thứ sáu và mùa 10. The Celebrity Apprentice được phát sóng vào các mùa từ bảy đến chín và từ mùa 11 trở đi.

Mùa thứ bảy (mùa 14 nếu tính cả hai bản) được phát sóng bắt đầu từ Chủ Nhật, ngày 4 tháng 1 năm 2015.[1]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 6 tháng 6 năm 2007, báo chí đưa tin The Apprentice đã được ký hợp đồng cho mùa thứ bảy và có khả năng sẽ có mùa thứ tám.[2] Trong một nỗ lực nhằm khơi dậy lại sự quan tâm của khán giả cho chương trình, mùa thứ bảy[3] có sự tham gia của người nổi tiếng thi tài với nhau để quyên tiền cho quỹ từ thiện của họ. Chương trình được đặt tên The Celebrity Apprentice để tiếp tục kế thừa kịch bản của The Apprentice. Biên tập viên báo lá cải người Anh Piers Morgan là người chiến thắng mùa đó. Ngày 28 tháng 1 năm 2008, NBC xác nhận rằng kịch bản mùa thứ tám cũng tương tự, và kết quả là danh hài Joan Rivers đã giành chiến thắng.

Mùa thứ ba của The Celebrity Apprentice được phát sóng vào mùa xuân năm 2010 và người chiến thắng là Bret Michaels.

Ngày 17 tháng 3 năm 2010, NBC chính thức tuyên bố rằng một mùa mới của phiên bản Apprentice gốc sẽ lại được sản xuất, bằng việc giải thích rằng dân văn phòng bình thường sẽ lại thu hút được sự chú ý của khán giả trong bối cảnh nền kinh tế Mỹ đang ảm đạm. Chương trình sau đó được lên sóng ngày 16 tháng 9 năm 2010. Tỉ lệ người xem lần đó xuống thấp nên cả Trump và nhà sản xuất Mark Burnett đều đồng ý quay lại với phiên bản "Người nổi tiếng", mà sau đó đã chứng kiến John Rich là người thắng cuộc ở mùa thứ tư. Trong mùa thứ năm, MC của chương trình trò chuyện buổi tối Arsenio Hall thắng cuộc. Trong mùa thứ sáu, mùa đặc biệt đầu tiên được sản xuất, với sự góp mặt của 14 trong số những người nổi tiếng được hâm mộ nhất nhằm cạnh tranh cho danh hiệu All-star Celebrity Apprentice, mà sau đó ca sĩ nhạc đồng quê Trace Adkins chiến thắng. Trong mùa thứ bảy, Donald Trump đưa chương trình về lại phiên bản Celebrity Apprentice bình thường, và người thắng cuộc là biên tập viên truyền hình và MC chương trình trò chuyện Leeza Gibbons.

Tháng 6 năm 2015, sau khi Trump đưa ra những bình luận mà nhiều người cho là có tính xúc phạm[4] về vấn đề người nhập cư bất hợp pháp ở Mexico,[5] NBC tuyên bố rằng họ không còn làm việc với ông nữa. Tháng 9 năm 2015, nhà đài thông báo rằng cựu Thống đốc bang California Arnold Schwarzenegger sẽ là MC mới và mùa tiếp theo sẽ lên sóng trong khoảng năm 2016-2017.[6]

Danh sách các mùa[sửa | sửa mã nguồn]

Được xem như là phần tiếp nối của phiên bản The Apprentice Mỹ, các mùa của Celebrity Apprentice được đánh số nối tiếp các mùa của phiên bản gốc. Cho tới năm 2015, đã có bảy mùa Celebrity Apprentice được lên sóng (mùa 10 không phải là phiên bản người nổi tiếng):

  • The Apprentice (phiên bản Mỹ mùa 7), lên sóng Tháng 1 – Tháng 3 năm 2008
  • The Apprentice (phiên bản Mỹ mùa 8), lên sóng Tháng 3 – Tháng 5 năm 2009
  • The Apprentice (phiên bản Mỹ mùa 9), lên sóng Tháng 3 – Tháng 5 năm 2010
  • The Apprentice (phiên bản Mỹ mùa 11), lên sóng Tháng 3 – Tháng 5 năm 2011
  • The Apprentice (phiên bản Mỹ mùa 12), lên sóng Tháng 2 – Tháng 5 năm 2012
  • The Apprentice (phiên bản Mỹ mùa 13), lên sóng Tháng 3 – Tháng 5 năm 2013
  • The Apprentice (phiên bản Mỹ mùa 14), lên sóng Tháng 1 – Tháng 2 năm 2015
  • The Apprentice (phiên bản Mỹ mùa 15), lên sóng khoảng giữa 2016–2017

Số liệu từng mùa[sửa | sửa mã nguồn]

Chú ý: Do chương trình là phần tiếp nối của một chương trình truyền hình, bảng "số liệu từng mùa" dưới đây là sự tiếp nối bảng "số liệu từng mùa" từ phiên bản gốc (The Apprentice). Cũng chú ý thêm là mùa 10 không có trong bảng vì chương trình quay trở lại phiên bản gốc trong mùa đó.

Mùa Người thắng cuộc Quỹ từ thiện của người thắng cuộc Khung giờ Ngày lên sóng Ngày kết thúc Mùa truyền hình Xếp hạng Số người xem (triệu người) Số người xem tập cuối (triệu người)
7 Pier Morgan Intrepid Fallen Heroes Fund 21:00 Thứ năm Ngày 3 tháng 1 năm 2008 Ngày 27 tháng 3 năm 2008 2007–2008 48 11,0 12,1[7]
8 Joan Rivers God's Love We Deliver 21:00 Chủ nhật Ngày 1 tháng 3 năm 2009 Ngày 10 tháng 5 năm 2009 2008–2009 52 9,0 8,7
9 Bret Michaels American Diabetes Association Ngày 14 tháng 3 năm 2010 Ngày 23 tháng 5 năm 2010 2009–2010 59 7,4[8] 9,3[9]
11 John Rich St. Jude Children's Research Hospital Ngày 6 tháng 3 năm 2011 Ngày 22 tháng 5 năm 2011 2010–2011 46 8,8[10] 8,3[11]
12 Arsenio Hall Magic Johnson Foundation Ngày 19 tháng 2 năm 2012 Ngày 20 tháng 5 năm 2012 2011–12 73[12] 7,1[12] 6,9[13]
13 Trace Adkins Hội Chữ thập đỏ Mỹ Ngày 3 tháng 3 năm 2013 Ngày 19 tháng 5 năm 2013 2012–13 84[14] 5,6[14] 5,3
14 Leeza Gibbons Leeza's Care Connection 20:00 Thứ hai Ngày 4 tháng 1 năm 2015 Ngày 16 tháng 2 năm 2015 2014–15 67[15] 7,6[15] 6,1

Ứng viên của từng mùa[sửa | sửa mã nguồn]

Celebrity Apprentice 1 (mùa 7)[sửa | sửa mã nguồn]

Celebrity Apprentice 2 (mùa 8)[sửa | sửa mã nguồn]

Celebrity Apprentice 3 (mùa 9)[sửa | sửa mã nguồn]

Celebrity Apprentice 4 (mùa 11)[sửa | sửa mã nguồn]

Celebrity Apprentice 5 (mùa 12)[sửa | sửa mã nguồn]

Celebrity Apprentice 6 (mùa 13)[sửa | sửa mã nguồn]

Celebrity Apprentice 7 (mùa 14)[sửa | sửa mã nguồn]

Celebrity Apprentice 8 (mùa 15)[sửa | sửa mã nguồn]

Các chương trình tương tự ở quốc gia khác[sửa | sửa mã nguồn]

  • The Celebrity Apprentice Australia
  • Celebrity Apprentice Ireland
  • Comic Relief Does The Apprentice (Anh)
  • Sport Relief Does The Apprentice (Anh)

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “‘Chicago Fire’, ‘Chicago P.D.’ & ‘Grimm’ Renewed; NBC Confirms Renewals of ‘Parks & Recreation’ & ‘Celebrity Apprentice’”. TV by the numbers. 19 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2016. 
  2. ^ Christopher Rocchio; Steve Rogers (6 tháng 7 năm 2007). “Report: NBC to announce renewal of Donald Trump's 'The Apprentice'. Reality TV World. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2016. 
  3. ^ Trevor Kimball (ngày 31 tháng 5 năm 2007). “The Apprentice: Trump Says NBC Wants Him Back”. TV Series Finale. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2016. 
  4. ^ Azam Ahmed (ngày 2 tháng 7 năm 2015). “And Now, What Mexico Thinks of Donald Trump”. The New York Times. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2016. 
  5. ^ Philip Bump (ngày 2 tháng 7 năm 2015). “Surprise! Donald Trump is wrong about immigrants and crime”. Washington Post. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2016. 
  6. ^ Cynthia Littleton (14 tháng 9 năm 2015). “Arnold Schwarzenegger to Replace Donald Trump As Host of ‘Celebrity Apprentice’”. Variety. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2016. 
  7. ^ Gary Levin (12 tháng 5 năm 2009). “Nielsens: 'Amazing Race,' how sweet the ratings”. USA Today. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2016. 
  8. ^ “Final 2009-10 Broadcast Primetime Show Average Viewership”. TV by the numbers. 16 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2016. 
  9. ^ Rick Kissell (24 tháng 5 năm 2010). “ABC’s ‘Lost’ finishes on top”. Variety. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2016. 
  10. ^ Nellie Andreeva (ngày 27 tháng 5 năm 2011). “Full 2010-2011 TV Season Series Rankings”. Deadline. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2016. 
  11. ^ Lynette Rice (ngày 23 tháng 5 năm 2011). 'Family Guy' rules on a night of finales”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2016. 
  12. ^ a ă “Complete List Of 2011-12 Season TV Show Viewership: 'Sunday Night Football' Tops, Followed By 'American Idol,' 'NCIS' & 'Dancing With The Stars'. TV by the numbers. 24 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2016. 
  13. ^ “Sunday Final Ratings: 'Family Guy' Adjusted Up; 'Bob's Burgers' Adjusted Down”. TV by the numbers. 22 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2016. 
  14. ^ a ă “Complete List Of 2012-13 Season TV Show Viewership: ‘Sunday Night Football’ Tops, Followed By ‘NCIS,’ ‘The Big Bang Theory’ & ‘NCIS: Los Angeles’”. TV by the numbers. 29 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2016. 
  15. ^ a ă Lisa de Moraes (ngày 21 tháng 5 năm 2015). “Full 2014-15 TV Season Series Rankings: Football & ‘Empire’ Ruled”. Deadline. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2016. 
  16. ^ “SIXTEEN CELEBRITIES FROM TV, FILM, MUSIC AND SPORTS COMPETE FOR FAVORITE CHARITIES ON ARNOLD SCHWARZENEGGER-LED ‘THE CELEBRITY APPRENTICE’”. NBCUniversal MediaVillage. Ngày 28 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2016.