The Seer (album của Swans)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
The Seer
A painting of a wolf's face with its teeth bared
Album phòng thu của Swans
Phát hành 28 tháng 8, 2012 (2012-08-28)
Thu âm 2011; Studio P4 (Berlin), Andere Baustelle (Berlin), Marcata Studio (Gardiner, NY), Trout Recording (Brooklyn, NY)
Thể loại Post-rock[1][2]  • experimental[1]  • noise rock[3]  • drone[4]
Thời lượng 119:13
Ngôn ngữ English
Hãng đĩa Young God
Sản xuất Michael Gira
Thứ tự album của Swans
We Rose from Your Bed with the Sun in Our Head
(2012)We Rose from Your Bed with the Sun in Our Head2012
The Seer
(2012)
Not Here / Not Now
(2013)Not Here / Not Now2013

The Seer của ban nhạc experimental rock Swans, phát hành ngày 28 tháng 8 năm 2012 bởi hãng đĩa Young God Records. Trưởng nhóm Michael Gira dùng số tiền bán được của album We Rose from Your Bed with the Sun in Our Head để thu âm The Seer.

Album có sự hợp tác của Karen O- hát chính ban nhạc Yeah Yeah Yeahs, Alan Sparhawk và Mimi Parker của Low, các thành viên của Akron/Family, Ben Frost, Grasshopper từ Mercury Rev và cựu thành viên của Swans là Jarboe.[5] Album đáng chú ý với các bài hát rất dài, đặc biệt là bài hát chủ đề dài hơn 30 phút, cũng như những thử nghiệm về noisedrone.

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Michael Gira phát biểu rằng album "30 năm để làm nên" và là "đỉnh cao của tất cả các album trước đây của Swans cũng như bất cứ nhạc phẩm nào tôi từng làm."[6] "93 Ave. B Blues," "The Seer," "The Apostate," và "Avatar" được phát triển và biểu diễn trong các tour diễn trong khi phần còn lại của album được sáng tác trong phòng thu.[6]

Tuy Gira hát trong hầu hết các ca khúc, ông để Karen O hát "Song for a Warrior", Gira nói rằng "Vì bài hát như một khúc ru đồng quê, tôi nghĩ nó sẽ thích hợp cho một người phụ nữ. Chris [Pravidica, tay chơi bass] chỉ cho tôi một vài nhạc phẩm của Karen khi cô ấy hát theo cách rất dịu dàng, đầy cảm xúc này."[7] Thành viên cũ của Swans là Jarboe cũng xuất hiện trong album.[7] Tên của album và bài hát chủ đề xuất phát từ việc Swans biểu diễn bài hát "The Seer" thuần nhạc cụ nhiều lần, cho tới một lần Gira bắt đầu hát, "I see it all, I see it all".[8] Bìa album dựa trên một bức vẽ hình một con sói của Simon Henwood, với hàm răng của Gira.[7]

Âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Dài gần hai tiếng, The Seer có dung lượng gấp đôi album trước, My Father Will Guide Me up a Rope to the Sky. Album cũng xuất hiện rất nhiều yếu tố nhạc drone (nhấn mạnh sự liên tục và lập lại), như trong bài hát chủ đề và nửa đầu "A Piece of the Sky". "Lunacy", "Mother of the World", "The Seer Returns", "The Daughter Brings the Water", và "A Piece of the Sky" đã được phát hành trước dưới dạng demo trong ấn bản đặc biệt của We Rose from Your Bed with the Sun in Our Head. Album được thu âm tại Berlin, Brooklyn, và Gardiner, New York.[9]

Phê bình nhận xét[sửa | sửa mã nguồn]

Đánh giá chuyên môn
Điểm trung bình
Nguồn Đánh giá
Metacritic 87/100 [10]
Nguồn đánh giá
Nguồn Đánh giá
Allmusic 4.5/5 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar half.svg [11]
The A.V. Club A[12]
Drowned in Sound 5/5 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar full.svg[2]
The Guardian 4/5 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar empty.svg[13]
The Independent 4/5 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar empty.svg[14]
Pitchfork (9.0/10)[15]
Rolling Stone 3.5/5 saoStar full.svgStar full.svgStar half.svgStar empty.svg
Spin 8/10 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar empty.svgStar empty.svg[16]
Slant Magazine 4/5 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar empty.svg[17]
Tiny Mix Tapes 5/5 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar full.svg[18]

Từ khi được phát hành, The Seer đã được ca ngợi bởi các nhà phê bình đánh giá. Trên Metacritic, trên thang điển 100, album nhận được điểm trung bình 87, dựa trên 32 đánh giá.[19]

Album xuất hiện trên nhiều danh sách album hay nhất năm 2012 của nhiều tạp chí âm nhạc, bao gồm Stereogum (#4),[20] Pitchfork (#5),[21]Sputnikmusic (#1).[22]

Về thương mại, album chỉ đạt vị trí #114 trên bảng xếp hạng Billboard 200 và #22 trên Independent Albums.[23]

Danh sách bài hát[sửa | sửa mã nguồn]

Đĩa một
STT Tên bài hátSáng tác Thời lượng
1. "Lunacy" (hợp tác với Alan SparhawkMimi Parker)Michael Gira 6:09
2. "Mother of the World"  Gira 9:57
3. "The Wolf"  Gira, Christoph Hahn, Thor Harris, Christopher Pravdica, Phil Puleo, Norman Westberg 1:35
4. "The Seer"  Gira 32:14
5. "The Seer Returns" (hợp tác với Jarboe)Gira, Hahn, Harris, Pravdica, Puleo, Westberg 6:17
6. "93 Ave. B Blues"  Gira 5:21
7. "The Daughter Brings the Water"  Gira 2:40
Đĩa hai
STT Tên bài hátSáng tác Thời lượng
1. "Song for a Warrior" (hợp tác với Karen O)Gira 3:58
2. "Avatar"  Gira, Hahn, Harris, Pravdica, Puleo, Westberg 8:51
3. "A Piece of the Sky" (hợp tác với Jarboe và Akron/Family)Gira 19:10
4. "The Apostate"  Gira, Hahn, Harris, Pravdica, Puleo, Westberg 23:01

Vinyl LP[sửa | sửa mã nguồn]

The album featured a different track order for its vinyl release.

Mặt một
STT Tên bài hát Thời lượng
1. "Lunacy" (hợp tác với Alan SparhawkMimi Parker) 6:07
2. "The Apostate Pt. 1"   13:18
Mặt hai
STT Tên bài hát Thời lượng
1. "The Apostate Pt. 2"   9:36
2. "A Piece of the Sky Pt. 1" (hợp tác với Jarboe và Akron/Family) 9:36
Mặt ba
STT Tên bài hát Thời lượng
1. "A Piece of the Sky Pt. 2" (hợp tác với Jarboe and Akron/Family) 9:30
2. "93 Ave. B Blues"   5:22
3. "The Daughter Brings the Water"   2:33
4. "Song for a Warrior" (hợp tác với Karen O) 3:58
Mặt bốn
STT Tên bài hát Thời lượng
1. "Mother of the World"   9:59
2. "Avatar"   8:49
Mặt năm
STT Tên bài hát Thời lượng
1. "The Wolf"   1:35
2. "The Seer Pt 1"   18:56
Mặt sáu
STT Tên bài hát Thời lượng
1. "The Seer Pt 2"   13:17
2. "The Seer Returns" (hợp tác với Jarboe) 6:15

Bonus live 2010/2011 DVD track listing[sửa | sửa mã nguồn]

STT Tên bài hát Thời lượng
1. "No Words/No Thoughts"   18:50
2. "Avatar"   10:36
3. "The Apostate"   19:36
4. "Beautiful Child (fragment)"   3:43
5. "Jim"   8:16
6. "Sex God Sex"   7:13
7. "The Seer / I Crawled"   32:16

Thành phân tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Theo trang web của Young God Records.[6]

Swans[sửa | sửa mã nguồn]

Nghệ sĩ khác[sửa | sửa mã nguồn]

  • Karen O – hát chính trong "Song for a Warrior"
  • Alan Sparhawk và Mimi Parker – hát nền trong "Lunacy"
  • Jarboe – hát nền trong "The Seer Returns" và "A Piece of the Sky", đồng ca trong "A Piece of the Sky"
  • Seth Olinsky, Miles Seaton, and Dana Janssen – hát nền trong "A Piece of the Sky"
  • Caleb Mulkerin and Colleen Kinsella – accordion, hát phụ, dulcimer, guitar, piano và nhạc cụ khác trong "The Seer Returns"
  • (Sean Mackowiak) – mandolin mộc và điện, clarinet
  • Ben Frost – tiếng lửa trong "A Piece of the Sky"
  • Iain Graham – kèn túi trong "The Seer"
  • Bruce Lamont – kèn cor trong "The Seer"
  • Bob Rutman – cello thép trong "The Seer"
  • Cassis Staudt – đàn xếp
  • Eszter Balint – violin
  • Jane Scarpantoni – cello
  • Kevin McMahon – trống phụ trong "The Seer Returns" và "Avatar", guitar phụ trong "Song for a Warrior" và "Avatar"
  • Bryce Goggin – piano trong "Song for a Warrior"
  • Stefan Rocke – contrabassoon trong "The Seer"

Thành phần kỹ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

  • Michael Gira – sản xuất
  • Kevin McMahon – kỹ thuật, phối khí
  • Macro and Boris – trợ lý kỹ thuật của Kevin McMahon
  • Bryce Goggin – kỹ thuật
  • Adam Sachs – trợ lý kỹ thuật của Bruce Goggin
  • Doug Henderson – master
  • Jamal Ruhe – pe-mastering
  • Simon Henwood – bìa đĩa

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Larson, Jeremy D. (ngày 30 tháng 8 năm 2012). “Swans – The Seer”. Consequence of Sound. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2015. 
  2. ^ a ă “Swans – The Seer”. Drowned in Sound. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2012. 
  3. ^ Reed, Ryan (ngày 28 tháng 8 năm 2012). “Swans: The Seer”. Paste. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2015. 
  4. ^ Lariviere, Aaron (ngày 9 tháng 11 năm 2012). “Swans Albums From Worst To Best”. Stereogum. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2015. 
  5. ^ “Swans Reveal New Album Details”. Pitchfork Media. Ngày 29 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2012. 
  6. ^ a ă â “SWANS - The Seer”. Young God Records. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2013. 
  7. ^ a ă â Stosuy, Brandon. “Interviews: Swans”. Pitchfork. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2015. 
  8. ^ Spencer, Matt. “The Seer Returns”. Popmatters. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2015. 
  9. ^ “SWANS - The Seer”. Young God Records. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2013. 
  10. ^ “The Seer – Swans”. Metacritic. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2012. 
  11. ^ “The Seer – Swans”. Allmusic. Ngày 28 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2012. 
  12. ^ Heller, Jason (ngày 18 tháng 9 năm 2012). “Swans: The Seer | Music | MusicalWork Review | The A.V. Club”. The A.V. Club. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2012. 
  13. ^ “Swans: The Seer – Review”. The Guardian. Ngày 23 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2012. 
  14. ^ “Swans: The Seer – Review”. The Independent. Ngày 26 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2012. 
  15. ^ “Swans: The Seer – Review”. Pitchfork. Ngày 27 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2012. 
  16. ^ “Swans: The Seer – Review”. Spin. Ngày 27 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2012. 
  17. ^ “Swans: The Seer”. Slant Magazine. Ngày 26 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2012. 
  18. ^ “Swans – The Seer”. Tiny Mix Tapes. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2012. 
  19. ^ The Seer Reviews, Ratings, Credits, and More - Metacritic
  20. ^ Stereogum’s Top 50 Albums Of 2012 - Stereogum
  21. ^ Staff Lists: The Top 50 Albums of 2012 | Features | Pitchfork
  22. ^ Staff's Top 50 Albums of 2012
  23. ^ “Swans Music News & Info”. Billboard.com. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2012. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]