Thiên Thai Đức Thiều

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Thiền sư Thiên Thai Đức Thiều

Thiền sư Thiên Thai Đức Thiều (天台德韶, Tendai Tokushō, 891-972) là thiền tăng ở đời Tống, Tổ thứ 2 của tông Pháp nhãn, đệ tử nối pháp của thiền sư Pháp Nhãn Văn Ích. Dưới sư có hơn 81 vị thiện tri thức: Vĩnh minh Diên thọ, Trường thọ Bằng ngạn, Đại ninh Khả hoằng...

Cơ duyên-Hành trạng[sửa | sửa mã nguồn]

Thiền sư Trung Quốc
Tam.jpg

Bồ-đề-đạt-ma đến Huệ Năng

Ngưu Đầu Thiền

Nhánh Thanh Nguyên Hành Tư

Nhánh Nam Nhạc Hoài Nhượng

Lâm Tế tông

Hoàng Long phái

Dương Kì phái

Tào Động tông

Quy Ngưỡng tông

Vân Môn tông

Pháp Nhãn tông

Khác


Sư là người vùng Long Tuyền (龍泉), Xử Châu (處州, thuộc Tỉnh Triết Giang), họ là Trần (陳). Mẹ sư nằm mộng thấy một luồng sáng chạm vào thân, nhân đó biết có thai. Đến khi sư ra đời có nhiều điềm lạ.   

Năm 15 tuổi, sư xuất gia tại Long Quy Tự (龍歸寺) ở trong vùng, đến 18 tuổi thụ giới Cụ túc.

Sư từng tham yết 54 vị cao đức như Đầu Tử Đại Đồng (投子大同), Long Nha Cư Độn (龍牙居遁) và cuối cùng nối pháp của ngài Pháp nhãn Văn ích ở Lâm xuyên.

Một hôm, thiền sư Pháp Nhãn thượng đường, có vị Tăng hỏi: Thế nào là một giọt nước ở nguồn Tào? Pháp Nhãn đáp: Là giọt nước ở nguồn Tào. Vị Tăng ấy mờ mịt thối lui. Sư ngồi bên cạnh hoát nhiên khai ngộ, bình sanh những mối nghi ngờ dường như băng tiêu, cảm động đến rơi nước mắt ướt áo. Sư trình chỗ sở ngộ cho Pháp Nhãn. Pháp Nhãn bảo: Ngươi ngày sau sẽ làm thầy quốc vương, khiến ánh sáng đạo của Tổ sư càng rộng lớn, ta không sánh bằng.

Sư từng vào núi Thiên thai chiêm bái các di tích của đại sư Trí khải và thấy đó dường như chỗ mình ở cũ. Sư lại đồng họ với Trí Khải. Thời nhân gọi Hậu thân Trí Khải.

Sư trụ lại ở chùa Bạch sa. Sau, sư được Ngô việt vương Tiền hoằng thục thỉnh về Hàng châu, tôn làm Quốc sư. Lúc bấy giờ, ngài Loa khê Nghĩa tịch đang trụ ở núi Thiên thai, than thở là kinh sách của tông Thiên thai đã bị thất lạc nhiều và nghe nói những kinh sách ấy hiện còn ở bên Cao li, nên bàn với sư, sư bèn xin Tiền hoằng thục sai sứ đi thỉnh về.

Sau, sư dời về ở chùa Thiên thai Bát nhã và kiến tạo mấy mươi đạo tràng.

Năm Khai bảo thứ 5 (972) đời vua Thái tổ ngày 28 tháng 6, Sư có chút bệnh, họp chúng từ biệt xong, ngồi kiết già thị tịch. Sư tịch tại Liên Hoa Phong thọ tám mươi hai tuổi, được sáu mươi lăm tuổi hạ.   

Pháp ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

Sư thượng đường dạy chúng: Cổ nhân nói: Thế nào là thiền? Tam giới miên miên. Thế nào là đạo? Thập phương hạo hạo. Vì sao nói tam giới miên miên? Chỗ nào là đạo lý của thập phương hạo hạo. Cần hội chăng? Bít mắt lại, bít tai, mũi, lưỡi, thân, ý lại không chỗ rỗng thiếu, không chỗ chuyển động. Thượng tọa hội chăng? Ngang cũng chẳng được, dọc cũng chẳng được, buông ra cũng chẳng được, đoạt đi cũng chẳng được, không có chỗ dụng tâm, cũng không có chỗ lập bày. Nếu hội được như thế mới là pháp môn bặt chọn lựa, tất cả ngôn ngữ dứt rỉ chảy.

Sư thượng đường dạy chúng: Phật pháp hiện hành, tất cả đầy đủ. Người xưa nói: ?tròn đồng thái hư không thiếu không dư?. Nếu như thế thì cái gì thiếu cái gì dư, cái gì phải cái gì quấy? Ai là người hội? Ai là người chẳng hội? Do đó nói, đi đông cũng là Thượng tọa, đi tây cũng là Thượng tọa, đi nam cũng là Thượng tọa, đi bắc cũng là Thượng tọa. Thượng tọa tại sao được thành đông tây nam bắc? Nếu hội được, tự nhiên con đường thấy nghe hiểu biết bặt dứt, tất cả các pháp hiện tiền. Vì sao như thế? Vì pháp thân không tướng, chạm mắt đều bày, Bát-nhã vô tri đối duyên liền chiếu, một lúc hội triệt để là tốt.

Chư Thượng tọa! kẻ xuất gia làm gì? Cái lý bản hữu này chưa phải là phần bên ngoài. ?Thức tâm đạt bản nguyên nên gọi là Sa-môn.? Nếu biết rõ ràng, không còn một mảy tơ làm chướng ngại. Thượng tọa đứng lâu, trân trọng.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Fo Guang Ta-tz'u-tien 佛光大辭典. Fo Guang Ta-tz'u-tien pien-hsiu wei-yuan-hui 佛光大辭典編修委員會. Taipei: Fo-kuang ch'u-pan-she, 1988. (Phật Quang Đại Từ điển. Phật Quang Đại Từ điển biên tu uỷ viên hội. Đài Bắc: Phật Quang xuất bản xã, 1988.)
  • Das Lexikon der Östlichen Weisheitslehren, Bern 1986.
  • Dumoulin, Heinrich:
Geschichte des Zen-Buddhismus I. Indien und China, Bern & München 1985.
Geschichte des Zen-Buddhismus II. Japan, Bern & München 1986.