Thiếu hụt nhận thức

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Thiếu hụt nhận thức là một thuật ngữ bao gồm để mô tả bất kỳ đặc điểm nào đóng vai trò là rào cản đối với quá trình nhận thức.[1]

Thuật ngữ có thể mô tả

Chứng bệnh này thường đề cập đến một đặc tính lâu bền, trái ngược với mức độ ý thức thay đổi, có thể là cấp tính và có thể đảo ngược. Thiếu hụt nhận thức có thể được sinh ra hoặc gây ra bởi các yếu tố môi trường như chấn thương não, rối loạn thần kinh hoặc bệnh tâm thần.

Chữa trị[sửa | sửa mã nguồn]

Người già bị suy giảm nhận thức dường như cải thiện phần nào với liệu pháp ánh sáng.[4]

Những phát hiện khác[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù người ta mong đợi sự suy giảm nhận thức sẽ có ảnh hưởng lớn đến hiệu suất công việc, nhưng dường như có rất ít hoặc không có mối tương quan nào về sức khỏe với hiệu suất công việc. Ngoại trừ các công việc phụ thuộc vào nhận thức như điều khiển không lưu, vận động viên chuyên nghiệp hoặc các công việc ưu tú khác, tuổi tác dường như không ảnh hưởng đến hiệu suất công việc của một người. Điều này rõ ràng mâu thuẫn với các bài kiểm tra nhận thức được đưa ra, vì vậy vấn đề đã được nghiên cứu thêm. Một lý do có thể cho kết luận này là nhu cầu hiếm có của một người để thực hiện tối đa. Có một sự khác biệt giữa chức năng điển hình, đó là   - mức độ hoạt động bình thường cho cuộc sống hàng ngày và chức năng tối đa, đó là   - những gì kiểm tra nhận thức quan sát là mức độ hoạt động tối đa của chúng ta. Vì khả năng nhận thức tối đa mà chúng ta có thể đạt được giảm dần, nó có thể không thực sự ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày của chúng ta, mà chỉ yêu cầu ở mức độ bình thường.[5]

Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng đói ở trẻ em có thể có tác dụng bảo vệ đối với sự suy giảm nhận thức. Một lời giải thích có thể là sự khởi đầu của những thay đổi liên quan đến tuổi tác trong cơ thể có thể bị trì hoãn do hạn chế calo. Một cách giải thích khác là hiệu ứng sinh tồn có chọn lọc, vì những người tham gia nghiên cứu có một thời thơ ấu với nạn đói thường có xu hướng khỏe mạnh nhất trong những người cùng tuổi.[6]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Coren, Stanley; Lawrence M. Ward; James T. Enns (1999). Sensation and Perception. Harcourt Brace. tr. 9. ISBN 0-470-00226-3. 
  2. ^ “Corticosteroids and cognition.”. J Psychiatr Res 35: 127–45. PMID 11461709. doi:10.1016/s0022-3956(01)00018-8. 
  3. ^ Kalachnik, JE.; Hanzel, TE.; Sevenich, R.; Harder, SR. (tháng 9 năm 2002). “Benzodiazepine behavioral side effects: review and implications for individuals with mental retardation”. Am J Ment Retard 107 (5): 376–410. ISSN 0895-8017. PMID 12186578. doi:10.1352/0895-8017(2002)107<0376:BBSERA>2.0.CO;2. 
  4. ^ Chiu, HL; Chan, PT; Chu, H; Hsiao, SS; Liu, D; Lin, CH; Chou, KR (tháng 10 năm 2017). “Effectiveness of Light Therapy in Cognitively Impaired Persons: A Metaanalysis of Randomized Controlled Trials.”. Journal of the American Geriatrics Society 65 (10): 2227–2234. PMID 28734045. doi:10.1111/jgs.14990. 
  5. ^ Salthouse, Timothy (10 tháng 1 năm 2012). “Consequences of Age-Related Cognitive Declines”. Annual Review of Psychology 63 (1): 201–226. PMC 3632788. doi:10.1146/annurev-psych-120710-100328. 
  6. ^ Barnes, L. L.; Wilson, R. S.; Everson-Rose, S. A.; Hayward, M. D.; Evans, D. A.; Mendes de Leon, C. F. (26 tháng 10 năm 2015). “Effects of early-life adversity on cognitive decline in older African Americans and whites”. Neurology 79 (24): 2321–7. PMC 3578376. PMID 23233682. doi:10.1212/WNL.0b013e318278b607.