Thiệu Trung

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Thiệu Trung là một thuộc huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hoá, Việt Nam, một vùng đất văn vật của xứ Thanh, quê hương nhà sử học Lê Văn Hưu.

Thiệu Trung
Tỉnh Thanh Hoá
Huyện Thiệu Hóa
Diện tích 3,92 km²[1]
Số dân 5.418 người (1999)[1]
Mật độ dân số 1.382 người/km²(1999)
Mã đơn vị hành chính 15841[2]
Mã bưu chính  ?????


Thông tin địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Xã Thiệu Trung có diện tích: 3,92 km2;[1]. Theo Tổng điều tra dân số năm 1999, xã Thiệu Trung có dân số 5.418 người[1].

Xã Thiệu Trung nằm ở cực nam của huyện Thiệu, có địa giới hành chính:

Lịch sử hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Thời Lê, vùng đất xã Thiệu Trung ngày nay gồm hai làng là Phủ Lý (còn gọi là Bối Lý, kẻ Rị hay làng Rị) và Trà Sơn Đông (kẻ Chè hay làng Chè, sau đổi là Trà Đông và sau là Trà Hạ), thuộc tổng Vận Quy, huyện Đông Sơn, phủ Thiệu Thiên.

Đến triều Gia Long, phủ Thiệu Thiên được đổi làm phủ Thiệu Hóa[3].

Năm 1900, hai tổng Vận Quy và Đại Bối của huyện Đông Sơn được chuyển vào huyện Thuỵ Nguyên, cùng phủ Thiệu Hóa.

Sau Cách mạng Tháng Tám, thành lập huyện Thiệu Hóa, xã Thiệu Trung thuộc huyện Thiệu Hóa.

Năm 1977, cùng với các xã hữu ngạn sông Chu thuộc huyện Thiệu Hóa, xã Thiệu Trung được sáp nhập với huyện Đông Sơn thành huyện Đông Thiệu, xã Thiệu Trung thuộc huyện Đông Thiệu. Năm 1982 huyện Đông Thiệu đổi lại là huyện Đông Sơn, xã Thiệu Trung thuộc huyện Đông Sơn. Năm 1996, xã Thiệu Trung trở lại huyện Thiệu Hóa mới tái lập.

Hiện nay xã Thiệu Trung gồm bốn làng: Phủ Lý Bắc (làng Bắc), Phủ Lý Trung (làng Trung), Phủ Lý Nam (làng Nam) (tên gọi 3 làng này có từ sau năm 1945, chia tách từ làng Phủ Lý xưa) và làng Chè Đúc (hay Trà Đúc) [3].

Làng Phủ Lý[sửa | sửa mã nguồn]

Làng Phủ Lý hay Bối Lý tên Nôm là Kẻ Rị, là một làng cổ, nay thuộc xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hoá, tỉnh Thanh Hoá.

Làng Kẻ Rị nổi tiếng với nghề thủ công đúc đồng và cũng là quê hương nhà sử học đầu tiên của đất nước là Lê Văn Hưu.

Hội làng Kẻ Rị được tổ chức mỗi năm hai lần vào mùa xuân và mùa thu.

Hội xuân Kẻ Rị được tổ chức vào ngày mồng 9 và 10 tháng 2 âm lịch. Sau đó từ mồng 7 đến mồng 10 tháng 3 âm lịch là đợt hội thứ hai. Còn hội thu được gọi là Tết cơm mới tổ chức vào tháng 9 hằng năm, có tổ chức nấu cơm thi, xôi thi, cỗ thi, và những cổ được giải sẽ đem tế thần[4].

Kẻ Rị thờ năm vị thành hoàng là: Thánh Đào, Thiên Phúc, Đại Hành, Thái Tổ và Bạch Y Long. Trong đó Thánh Đào là vị thánh cả. Đức Thánh Đào được coi là thành hoàng chính trong năm vị của làng Rị vì ông là người đầu tiên đến khai phá mảnh đất này. Còn các vị thần Thiên Phúc, Đại Hành, Thái Tổ đều là các thiên thần bảo hộ cho dân làng. Có một vị thần nữ là Bạch Y Long cũng là thiên thần, miếu Ngũ thờ bà dựng trên đất chợ Rị cũ cạnh sông nhà Lê và vào những ngày hội khi vào miếu Bà không được mang đồ trắng, ai vô ý sẽ gặp phải điều chẳng lành[4].

Sau các cuộc tế chung, tới các dòng họ và gia đình cũng như khách thập phương vào dâng hương lễ thánh. Đặc biệt nhất của hội làng Kẻ Rị là cuộc đánh cờ người mà dân quanh vùng còn lưu truyền là "cờ Kẻ Rị". Bởi vì ngoài việc đấu trí được thua nó còn là một hình thức diễn xướng dân gian độc đáo. Nó nâng cao và phát triển môn cờ người, chuyển từ cờ ván sang cờ trận kèm theo hình thức diễn xướng. Tổ chức đấu cờ ở đây còn gắn chặt với việc tế thành hoàng; tế cầu phúc, nhất là tế Bạch Y Long[4].

Nghi thức chính của hội quy định là: mồng 9 buổi sáng tế yên vị, chiều tế yết, tối tế chầu; mồng 10 tế chính, lễ vật có lợn luộc cả con, bò thui cả con và các thứ thông thường khác[4].

Làng Chè Đúc[sửa | sửa mã nguồn]

Làng Chè là tên gọi xưa của thôn Trà Đông thuộc xã Thiệu Trung. Làng có nghề đúc truyền thống nổi tiếng. Xưa làng có hai phường Xóm Trên và Xóm Dưới. Mỗi phường có khoảng 100 thợ, chủ phường thường là người đứng đầu một dòng họ lớn. Sản phẩm là các mặt hàng dân dụng và mỹ nghệ. Về sau do nhu cầu của đời sống, thợ làng Chè còn sản xuất thêm các mặt hàng công nghiệp và quốc phòng. Làng đã đúc thành công tượng Bác Hồ bằng đồng, cao hơn 1,5 m, nặng hơn 400 kg, và tạo ra những sản phẩm đồng mỹ nghệ tham gia hội chợ quốc tế.

Danh nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Cùng với xã Đông Thanh giáp ranh, xã Thiệu Trung được coi là một vùng quê giàu truyền thống văn hóa và rất hiếu học.

  • Lê Văn Hưu (1230-1322). Ông từng khởi thảo bộ Đại Việt sử ký mà nhiều đoạn được giữ lại trong bộ Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên thế kỷ XV thời Lê sơ, đến nay vẫn còn có giá trị.
  • Lê Bá Khang, người xã Phủ Lý huyện Đông Sơn (nay thuộc xã Thiệu Trung huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hóa). Ông đỗ đệ tam giám đồng tiến sĩ xuất thân, khoa thi Tân Mùi, niên hiệu Hồng Thuận năm thứ 3 (1511) đời vua Lê Tương Dực, làm quan đến Tham chính.
  • Lê Biện, Đệ nhị giáp tiến sĩ (đỗ khoa thi năm 1631). Lê Biện (1586-?) người làng Phủ Lý, đỗ Tiến sĩ xuất thân khoa Tân Mùi niên hiệu Đức Long năm thứ 3 (1631). Ông làm quan Lại khoa Đô Cấp sự trung, tước Cẩm Nham tử.
  • Trần Lê Hiệu, Đệ tam giáp tiến sĩ (khoa thi Nhâm Ngọ 1822). Người xã Phủ Lý, huyện Đông Sơn phủ Thiệu Hóa tỉnh Thanh Hóa, đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân năm 38 tuổi; khoa thi hội năm nhâm ngọ niên hiệu Minh Mệnh năm thứ 3 (1822)) (Văn bia đề danh tiến sĩ khoa thi hội năm Nhâm Ngọ niên hiệu Minh Mệnh năm thứ 3 (1822)) Làm quan tới chức Lang Chung.
  • Trần Văn Thiện, người làng Phủ Lý, nay là xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hoá, tỉnh Thanh Hoá, sinh năm 1438, không rõ năm mất; ông đỗ Tiến sĩ năm Quý Mùi 1463, ông làm tới chức Thượng thư Bộ Hình, và đi sứ Trung Quốc (Văn bia đề danh tiến sĩ khoa Quý Mùi niên hiệu Quang Thuận, năm thứ 4 (1463).
  • Đào Tiêu (chữ Hán 陶椒, ? - ?), người làng Phủ Lý, đỗ Trạng nguyên khoa tháng hai, Ất Hợi, năm Bảo Phù thứ 3 (1275), đời Trần Thánh Tông cùng bảng nhãn không rõ tên, thám hoa Quách Nhẫn và 27 người khác đỗ thái học sinh.
  • Vũ Kiêm (1615-?) người làng Phủ Lý. Đỗ đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Bính Tuất năm 1646. Ông làm quan Tham chính Sơn Tây, sau bị giáng xuống làm Cấp sự trung.

Di tích lịch sử, văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đền Trà Đông: được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia theo Quyết định số 208/VH-QĐ ngày 13 tháng 3 năm 1990 của Bộ Văn hoá – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch)[5].
  • Đền thờ Lê văn Hưu: được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia theo Quyết định số 208/VH-QĐ ngày 13 tháng 3 năm 1990 của Bộ Văn hoá – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch).[5]
  • Từ đường họ Lê, thờ Đệ tam giáp tiến sĩ Lê Bá Khang và Đệ nhị giáp tiến sĩ Lê Biện.
  • Từ đường họ Trần thờ Đệ tam giáp tiến sĩ Trần Lê Hiệu.
  • Từ đường họ Nguyễn nơi thờ Nguyễn Mộng Tuân; được Sở văn hóa thông tin tỉnh Thanh Hóa (nay là Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch) công nhận di tích lịch sử văn hóa theo Quyết định số 78 ngày 8 tháng 2 năm 2001.
  • Hầm làm việc của Thường trực Uỷ ban hành chính tỉnh Thanh Hoá (1964-1972), xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hoá: Di tích lịch sử kháng chiến cấp tỉnh[6].

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b Quyết định số 19/2006/QĐ-BTNMT ngày 01/12/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc ban hành Danh mục địa danh các đơn vị hành chính Việt Nam thể hiện trên bản đồ
  2. ^ Quyết định số 124/2004/QĐ-TTg ngày 08/7/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành bảng Danh mục và mã số các đơn vị hành chính Việt Nam
  3. ^ a ă Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá. Tên làng xã Thanh Hoá, tập I. Nhà xuất bản Thanh Hoá, 2000. 
  4. ^ a ă â b Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên keri
  5. ^ a ă “Danh sách di tích cấp quốc gia thuộc tỉnh Thanh Hoá”. Website binhthuan.gov.vn. 
  6. ^ Quyết định số 2620/QĐ-UBND ngày 30 tháng 8 năm 2007 của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hoá

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]