Bước tới nội dung

Thiệu Trung

Thiệu Trung
Cổng làng Kẻ Rỵ – Kẻ Chè năm 2013
Hành chính
Quốc gia Việt Nam
VùngBắc Trung Bộ
TỉnhThanh Hóa
Trụ sở UBNDThôn 2 Nguyệt Lãng
Lịch sử hình thành
Thành lập16 tháng 6 năm 2025[1]
Địa lý
Tọa độ: 19°51′28″B 105°39′30″Đ / 19,85778°B 105,65833°Đ / 19.85778; 105.65833
Thiệu Trung trên bản đồ Việt Nam
Thiệu Trung
Thiệu Trung
Vị trí xã Thiệu Trung trên bản đồ Việt Nam
Diện tích21,82 km²[2]
Dân số (2024)
Tổng cộng32.152 người[2]
Mật độ1.474 người/km²
Khác
Mã hành chính15835[3]
Mã bưu chính40931
Websitethieutrung.thanhhoa.gov.vn

Thiệu Trung là một thuộc tỉnh Thanh Hóa, Việt Nam.

Được thành lập ngày 16 tháng 6 năm 2025 trên cơ sở các xã Thiệu Vận, Thiệu Lý, Thiệu Viên, Thiệu Trung cùng một phần thị trấn Thiệu Hóa, xã Thiệu Trung chính thức hoạt động từ ngày 1 tháng 7 năm 2025.

Địa lý

[sửa | sửa mã nguồn]

Xã Thiệu Trung nằm ở phía tây bắc vùng đồng bằng Thanh Hóa, thuộc hữu ngạn sông Chu, có vị trí địa lý:

Xã Thiệu Trung có diện tích tự nhiên 21,82 km², quy mô dân số năm 2024 là 32.152 người,[2] mật độ dân số đạt 1.474 người/km².

Xã là địa phương có quốc lộ 45 đi qua.

Lịch sử

[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 16 tháng 6 năm 2025, huyện Thiệu Hóa bị giải thể do bỏ cấp huyện; xã Thiệu Trung được thành lập theo Nghị quyết số 1686/NQ-UBTVQH15[1] của Ủy ban Thường vụ Quốc hội trên cơ sở sáp nhập diện tích tự nhiên và quy mô dân số của:

  • Toàn bộ 4 xã: Thiệu Vận, Thiệu Lý, Thiệu Viên, Thiệu Trung
  • Một phần thị trấn Thiệu Hóa (bao gồm xã Thiệu Đô cũ; sau khi phần lớn thị trấn Vạn Hà và xã Thiệu Phú cũ được sáp nhập vào xã Thiệu Hóa, khu vực Đồng Ngòn được sáp nhập vào xã Thiệu Quang).[2]

Xã này chính thức hoạt động từ ngày 1 tháng 7 năm 2025, là đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh Thanh Hóa.

Xã Thiệu Trung trước 16/6/2025

[sửa | sửa mã nguồn]

Thời Lê, vùng đất xã Thiệu Trung ngày nay gồm hai làng là Phủ Lý (còn gọi là Bối Lý, kẻ Rị hay làng Rị) và Trà Sơn Đông (kẻ Chè hay làng Chè, sau đổi là Trà Đông và sau là Trà Hạ), thuộc tổng Vận Quy, huyện Đông Sơn, phủ Thiệu Thiên.

Đến triều Gia Long, phủ Thiệu Thiên được đổi làm phủ Thiệu Hóa.[4]

Năm 1900, hai tổng Vận Quy và Đại Bối của huyện Đông Sơn được chuyển vào huyện Thuỵ Nguyên, cùng phủ Thiệu Hóa.

Sau Cách mạng Tháng Tám, thành lập huyện Thiệu Hóa, xã Thiệu Trung thuộc huyện Thiệu Hóa.

Năm 1977, cùng với các xã hữu ngạn sông Chu thuộc huyện Thiệu Hóa, xã Thiệu Trung được sáp nhập với huyện Đông Sơn thành huyện Đông Thiệu, xã Thiệu Trung thuộc huyện Đông Thiệu. Năm 1982 huyện Đông Thiệu đổi lại là huyện Đông Sơn, xã Thiệu Trung thuộc huyện Đông Sơn. Năm 1996, xã Thiệu Trung trở lại huyện Thiệu Hóa mới tái lập.

Hiện nay xã Thiệu Trung gồm bốn làng: Phủ Lý Bắc (làng Bắc), Phủ Lý Trung (làng Trung), Phủ Lý Nam (làng Nam) (tên gọi 3 làng này có từ sau năm 1945, chia tách từ làng Phủ Lý xưa) và làng Chè Đúc (hay Trà Đúc).[4]

Hành chính

[sửa | sửa mã nguồn]

Xã Thiệu Trung có 34 tổ chức tự quản. Dưới đây là danh sách các tổ chức tự quản theo địa giới từng xã, thị trấn cũ:

Tên xã/thị trấn Hành chính[5][6]
Số lượng Danh sách
15772 Thiệu Hóa 8 khu phố[7] Ba Chè; các khu phố còn lại được đánh số từ 7 đến 13[8]
15832 Thiệu Viên 7 thôn 1 Nguyệt Quang, 2 Nguyệt Quang, 3 Viên Nội, 4 Viên Nội, 5 Viên Ngoại, 6 Phú Thứ, 7 Phú Thứ[a]
15835 Thiệu Lý 7 thôn 1 Nguyệt Lãng, 2 Nguyệt Lãng, 3 Hổ Đàm, 4 Hổ Đàm, 5 Mỹ Lý, 6 Mỹ Lý, 7 Mỹ Lý[b]
15838 Thiệu Vận 6 thôn Lạc Đô, Quy Xá;[c] các thôn còn lại được đặt tên từ 1 Vận Quy đến 4 Vận Quy[d]
15841 Thiệu Trung 6 thôn 1 Phủ Lý Bắc, 2 Phủ Lý Trung, 3 Phủ Lý Nam, 4 Phủ Lý Nam, 5 Trà Đông, 6 Trà Đông[e]

Làng Phủ Lý (Kẻ Rị)

[sửa | sửa mã nguồn]
Làng Rị, năm 2012, ảnh: Xuân Văn

Làng Phủ Lý (Kẻ Rị) là làng Việt cổ, bên bờ sông Lê, từ Đời đường - Đời Lý có tên là Bối Lý; Từ Đời Trần - nay có tên là xã Phủ Lý, làng Phủ Lý (gọi nôm là Kẻ Rị). Bối Lý là trung tâm kinh tế, phật giáo của Ái Châu, đầu Thế ký 10, hào trưởng, phú gia địch quốc Lê Lương, nhà giàu có, nuôi 3000 môn đệ, ông cho xây 3 chùa Hương Nghiêm (Bối Lý - Kẻ Rị), Minh Nghiêm (Kẻ Bôn), Trinh Nghiêm (Kẻ Go). Đinh Tiên Hoàng thấy ông là người có đạo, giao cho ông giữ chức Bộc xạ tướng công, phụ trách quân lương. Làng Kẻ Rị nổi tiếng với nghề làm thừng (nay đã mai một) và cũng là quê hương nhà sử học đầu tiên của đất nước là Lê Văn Hưu. Hội làng Kẻ Rị được tổ chức mỗi năm hai lần vào mùa xuân và mùa thu. Hội xuân Kẻ Rị được tổ chức vào ngày mồng 9 và 10 tháng 2 âm lịch. Sau đó từ mồng 7 đến mồng 10 tháng 3 âm lịch là đợt hội thứ hai. Còn hội thu được gọi là Tết cơm mới tổ chức vào tháng 9 hằng năm, có tổ chức nấu cơm thi, xôi thi, cỗ thi, và những cổ được giải sẽ đem tế thần.[10] Kẻ Rị thờ năm vị thành hoàng là: Thánh Đào, Thiên Phúc, Đại Hành, Thái Tổ và Bạch Y Long. Trong đó Thánh Đào (tức trạng nguyên Đào Tiêu, thi đậu khoa 1275) là vị thánh cả. Ông được phong phúc thần, người dân địa phương phong ông người con quê hương, đỗ đạt cao nhất là đức Thánh Cả (Nhân Thân) có vị thế cao hơn các Thiên Thần khác: Thiên Phúc, Đại Hành, Thái Tổ, Bạch Y Long. Có một vị thần nữ là Bạch Y Long cũng là thiên thần, miếu Ngũ thờ bà dựng trên đất chợ Rị cũ cạnh sông nhà Lê vào những ngày hội khi vào miếu Bà không được mang đồ trắng, ai vô ý sẽ gặp phải điều chẳng lành.[10] Sau các cuộc tế chung, tới các dòng họ và gia đình cũng như khách thập phương vào dâng hương lễ thánh. Đặc biệt nhất của hội làng Kẻ Rị là cuộc đánh cờ người mà dân quanh vùng còn lưu truyền là "Rượu Kẻ Mơ, cờ Kẻ Rị". Bởi vì ngoài việc đấu trí được thua nó còn là một hình thức diễn xướng dân gian độc đáo. Nó nâng cao và phát triển môn cờ người, chuyển từ cờ ván sang cờ trận kèm theo hình thức diễn xướng. Tổ chức đấu cờ ở đây còn gắn chặt với việc tế thành hoàng; tế cầu phúc, nhất là tế Bạch Y Long.[10] Nghi thức chính của hội quy định là: mồng 9 buổi sáng tế yên vị, chiều tế yết, tối tế chầu; mồng 10 tế chính, lễ vật có lợn luộc cả con, bò thui cả con và các thứ thông thường khác.[10]

Làng Chè Đông (Chè Đúc)

[sửa | sửa mã nguồn]

Làng Chè là tên nôm của Trà Đông thuộc xã Thiệu Trung. Làng có nghề đúc truyền thống nổi tiếng. Xưa làng có hai phường Xóm Trên và Xóm Dưới. Mỗi phường có khoảng 100 thợ, chủ phường thường là người đứng đầu một dòng họ lớn. Sản phẩm là các mặt hàng dân dụng và mỹ nghệ. Về sau do nhu cầu của đời sống, thợ làng Chè còn sản xuất thêm các mặt hàng công nghiệp và quốc phòng. Làng đã đúc thành công tượng Bác Hồ bằng đồng, cao hơn 1,5 m, nặng hơn 400 kg, và tạo ra những sản phẩm đồng mỹ nghệ tham gia hội chợ quốc tế. “Làng có từ thời Lê[11] với tên gọi là Trà Sơn Đông. Đầu thế kỷ XIX là thôn Thượng thuộc xã Trà Sơn, tổng Vận Quy, huyện Đông Sơn, phủ Thiệu Thiên, trấn Thanh Hoa. Thời vua Đồng Khánh (1885 – 1888) đổi tên là thôn Trà Đông xã Trà Sơn, tổng Vận Quy, huyện Đông Sơn, phủ Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Đến năm Thành Thái thứ 12 (1900) cắt chuyển tổng Vận Quy về huyện Thụy Nguyên (sau đổi thành phủ Thiệu Hóa), Trà Đông thuộc đơn vị hành chính trên. Sau năm 1945 Trà Đông thuộc xã Minh Quang; năm 1953 Trà Đông thuộc xã Thiệu Trung”.[12]

Năm 1953, làng Chè Đông tác khỏi Chè Thượng (Trà Sơn, nay là thị trấn Thiệu Hóa), nhập với Phủ Lý (Kẻ Rị) thành xã Thiệu Trung.

Người Kẻ Rị (Phủ Lý) được thờ là Thành Hoàng Làng:

  • Lê Dụng là Cháu của Lê Lương, pháp danh Đạo Quang Trưởng Lão, là ông tổ của dòng họ Lê Văn, (Lê Cả Đồn) làng Hòa Chúng, xã Quảng Thọ, ông được nhân dân làng Hòa Chúng thờ là Thành hoàng làng vì có công khai hoang lập ấp.
  • Lê Văn Hưu: Ông được phong là Thành hoàng làng và được thờ tại đình Ôn Xá, thôn Thị Trung, xã Đình Dù, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên. Đền được công nhận di tích lịch sử cấp tỉnh năm 2012.
  • Đào Tiêu: Được thờ là đức Thánh Cả làng Thần Hậu, thuộc Kẻ Rị, xã Thiệu Trung, Thiệu Hóa, Thanh Hóa. Ngoài làng Thần Hậu, làng Đào Động, tổng Vọng Lỗ, huyện Phụ Phương,  nay là làng Đồng Bằng, xã An Lễ, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình thờ Đào Tiêu là thành hoàng làng (Theo Viện Đông Bác Cổ tổng điều tra năm 1938).
  • Lê Giốc: Ông được truy sắc phong là phúc thần và nhân dân ven sông Đại Hoàng lập miếu thờ ông (Theo Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam – tác giả Nguyễn Quang Thắng và Nguyễn Bá Thế).
  • Lê Bá Tài: là con của Lê Bá Khang (đỗ đệ tam giám đồng tiến sĩ xuất thân, khoa thi Tân Mùi, 1511), ông theo Chúa Nguyễn Hoàng vào Nam, và định cư tại làng Phú Xuân, Phường Tây Lộc, TP. Huế; và phát triển thành dòng họ Lê Văn ở đây.  Lê Bá Tài (Thành hoàng làng - nhân thần) được thờ tại Đình làng Phú Xuân cùng với một số Thiên thần khác, Đình làng Phú Xuân đã được công nhận di tích lịch sử cấp quốc gia. Họ Lê Phú Xuân thường kiêng húy chữ Khang, Khương.
  • Đền Trà Đông: được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia theo Quyết định số 208/VH-QĐ ngày 13 tháng 3 năm 1990 của Bộ Văn hoá – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch).[13]
  • Đền thờ Lê Văn Hưu: được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia theo Quyết định số 208/VH-QĐ ngày 13 tháng 3 năm 1990 của Bộ Văn hoá – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch).[13]
  • Từ đường họ Lê, thờ Đệ tam giáp tiến sĩ Lê Bá Khang và Đệ nhị giáp tiến sĩ Lê Biện.
  • Từ đường họ Trần thờ Đệ tam giáp tiến sĩ Trần Lê Hiệu.
  • Từ đường họ Nguyễn nơi thờ Nguyễn Mộng Tuân; được Sở văn hóa thông tin tỉnh Thanh Hóa (nay là Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch) công nhận di tích lịch sử văn hóa theo Quyết định số 78 ngày 8 tháng 2 năm 2001.
  • Hầm làm việc của Thường trực Uỷ ban hành chính tỉnh Thanh Hoá (1964-1972), xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hoá: Di tích lịch sử kháng chiến cấp tỉnh.[14]

Danh nhân

[sửa | sửa mã nguồn]

Xã Thiệu Trung được coi là một vùng quê giàu truyền thống văn hóa và rất hiếu học. Kẻ Rị là làng khoa bảng số 1 của Xứ Thanh về đỗ đạt cao, có 2 trạng nguyên và 1 bảng nhãn, và 7 tiến sĩ thời phong kiến:

  • Lê Văn Hưu (1230-1322). Người Làng Phủ Lý (Kẻ Rị) Đỗ Bảng nhãn khoa thi 1247, giữ chức Binh bộ Thượng thư, tước uyên hầu, người đặt nền móng cho quốc sử Việt Nam, ông viết bộ Đại Việt sử ký mà nhiều đoạn được giữ lại trong bộ Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên thế kỷ XV thời Lê sơ, đến nay vẫn còn có giá trị.
  • Đào Tiêu (?---?), người làng Phủ Lý (Kẻ Rị) đỗ trạng nguyên khoa thi năm 1275, giữ chức Hữu bật đại hành khiển (Hữu thừa tướng), sau được phong là Phúc Thần, dân làng thờ phụng hương khói. Làng ông mang tên làng Thần Hậu kể từ đó.
  • Lê Quát (1319 - 1386), người làng Phủ Lý (Kẻ Rị) Ông đậu Đệ nhất giáp, đệ nhất danh (tức Trạng Nguyên) khoa thi năm 1345 đời Trần Minh Tông, (Theo Văn bia văn chỉ huyện Đông Sơn); Năm 1359, Lê Quát kiêm chức Hàn lâm viện phụ chỉ. Năm 1366, Hữu bộc xạ Lê Quát xét duyệt sổ đinh ở Thanh Hóa. (ĐVSKTT). Sau được thăng Thượng thư hữu bật nhập nội Hành khiển – Hữu Thừa tướng.
  • Lê Giác: người làng Phủ Lý (Kẻ Rị) đậu đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Tân Tỵ. đời Trần Hiến Tông 1331. (theo Bia Văn chỉ Đông Sơn, chép từ Bản xã Tiên hiền Phủ Lý), chức hữu bật đại hành khiển, coi thừa chi viện hàn lâm. Vào chầu Kinh diên, cơ mật viện sử. Tuy nhiên một số tài liệu ghi Lê Giác và Lê Giốc chỉ là một.
  • Lê Giốc (? - 1378) người làng Phủ Lý (Kẻ Rị) là con của Lê Quát, ông đỗ đệ nhị giám tiến sĩ (Hoàng Giáp), khoa thi năm 1363, đời Trần Dụ Tông, hiệu Đại trị thứ 6 (Văn bia Văn chỉ Đông Sơn). Theo Đại Việt lịch triều đăng khoa lục lại viết ông đỗ Thái học sinh khoa thi năm Giáp Tuất (1334). Ông làm tới chức Kinh Doãn (Đứng đầu Kinh thành Thăng Long, là chức vị chỉ giao cho những người rất tin cẩn, tài năng).
  • Trần Văn Thiện (1438 - ). Người làng Phủ Lý, sinh năm 1438, không rõ năm mất; đỗ Tiến Sỹ năm Quý Mùi 1463, ông làm tới chức Thượng Thư Bộ Hình {theo văn bia đề danh Tiến sỹ khoa quý mùi niên hiệu Quang Thuận, năm thứ 4 (1463)}.
  • Lê Bá Khang, người xã Phủ Lý huyện Đông Sơn (nay thuộc xã Thiệu Trung huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hóa). Ông đỗ đệ tam giám đồng tiến sĩ xuất thân, khoa thi Tân Mùi, niên hiệu Hồng Thuận năm thứ 3 (1511) đời vua Lê Tương Dực, làm quan đến Tham chính.
  • Lê Biện, Đệ nhị giáp tiến sĩ (đỗ khoa thi năm 1631). Lê Biện (1586-?) người làng Phủ Lý, đỗ Tiến sĩ xuất thân khoa Tân Mùi niên hiệu Đức Long năm thứ 3 (1631). Ông làm quan Lại khoa Đô Cấp sự trung, tước Cẩm Nham tử.
  • Vũ Kiêm (1615-?) người làng Phủ Lý. Đỗ đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Bính Tuất năm 1646. Ông làm quan Tham chính Sơn Tây, sau bị giáng xuống làm Cấp sự trung.
  • Trần Lê Hiệu, Đệ tam giáp tiến sĩ (khoa thi Nhâm Ngọ 1822). Người xã Phủ Lý, huyện Đông Sơn phủ Thiệu Hóa tỉnh Thanh Hóa, đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân năm 38 tuổi; khoa thi hội năm nhâm Ngọ niên hiệu Minh Mệnh năm thứ 3 (1822)) (Văn bia đề danh tiến sĩ khoa thi hội năm Nhâm Ngọ niên hiệu Minh Mệnh năm thứ 3 (1822)) Làm quan tới chức Lang Chung.
  1. Các thôn từ 1 đến 7 thuộc xã Thiệu Viên (cũ) được chuyển lần lượt thành các thôn: 1 Nguyệt Quang, 2 Nguyệt Quang, 3 Viên Nội, 4 Viên Nội, 5 Viên Ngoại, 6 Phú Thứ, 7 Phú Thứ.[cần dẫn nguồn]
  2. Các thôn từ 1 đến 7 thuộc xã Thiệu Lý (cũ) được chuyển lần lượt thành các thôn: 1 Nguyệt Lãng, 2 Nguyệt Lãng, 3 Hổ Đàm, 4 Hổ Đàm, 5 Mỹ Lý, 6 Mỹ Lý, 7 Mỹ Lý.[cần dẫn nguồn]
  3. Tên thôn Quy Xá được viết theo Nghị quyết số 106/NQ-HĐND.[9]
  4. Các thôn từ 1 đến 4 thuộc xã Thiệu Vận (cũ) được chuyển lần lượt thành các thôn từ 1 Vận Quy đến 4 Vận Quy.[cần dẫn nguồn]
  5. Các thôn từ 1 đến 6 thuộc xã Thiệu Trung (cũ) được chuyển lần lượt thành các thôn: 1 Phủ Lý Bắc, 2 Phủ Lý Trung, 3 Phủ Lý Nam, 4 Phủ Lý Nam, 5 Trà Đông, 6 Trà Đông.[cần dẫn nguồn]

Chú thích

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. 1 2 Ủy ban Thường vụ Quốc hội (ngày 16 tháng 6 năm 2025). "Nghị quyết số 1686/NQ-UBTVQH15 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Thanh Hóa năm 2025". Cổng Thông tin điện tử Quốc hội. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2025.
  2. 1 2 3 4 Hội đồng nhân dân tỉnh Thanh Hóa (ngày 25 tháng 4 năm 2025). "Nghị quyết số 646/NQ-HĐND về chủ trương sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Thanh Hóa năm 2025" (PDF). Cổng thông tin điện tử của Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh Thanh Hóa. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 27 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2025.
  3. Thủ tướng Chính phủ (ngày 30 tháng 6 năm 2025). "Quyết định số 19/2025/QĐ-TTg ban hành Bảng danh mục và mã số các đơn vị hành chính Việt Nam" (PDF). Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 6 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2025.
  4. 1 2 Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá. Tên làng xã Thanh Hoá, tập I. Nhà xuất bản Thanh Hoá, 2000.
  5. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa (ngày 8 tháng 4 năm 2020). "Quyết định số 1238/QĐ-UBND về việc phân loại thôn, tổ dân phố trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa" (PDF). Hệ thống văn bản pháp luật tỉnh Thanh Hóa. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 19 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2025.
  6. Lê Huyền (ngày 19 tháng 3 năm 2026). "QUYẾT ĐỊNH Về việc công bố kết quả bầu cử và danh sách những người trúng cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã Thiệu Trung khoá II, nhiệm kỳ 2026 - 2031". Cổng thông tin điện tử xã Thiệu Trung. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 4 năm 2026. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2026.
  7. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa (ngày 2 tháng 4 năm 2024). "Quyết định số 1285/QĐ-UBND về việc chuyển thôn, tiểu khu thành khu phố thuộc thị trấn Thiệu Hóa và thị trấn Hậu Hiền, huyện Thiệu Hóa" (PDF). Hệ thống văn bản pháp luật tỉnh Thanh Hóa. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 3 tháng 4 năm 2024. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2026.
  8. Hội đồng nhân dân tỉnh Thanh Hóa (ngày 16 tháng 6 năm 2020). "Nghị quyết số 274/NQ-HĐND về việc đổi tên thôn (bản), tổ dân phố (tiểu khu) tại các xã, phường, thị trấn thuộc các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa" (PDF). Cổng thông tin điện tử của Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh Thanh Hóa. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 6 tháng 8 năm 2024. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2024.
  9. Hội đồng nhân dân tỉnh Thanh Hóa (ngày 7 tháng 11 năm 2018). "Nghị quyết số 106/NQ-HĐND về đổi tên; chuyển thôn thành khu phố; sáp nhập để thành lập thôn, tổ dân phố mới tại xã, phường, thị trấn thuộc các huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa" (PDF). Cổng thông tin điện tử của Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh Thanh Hóa. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 12 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2024.
  10. 1 2 3 4 Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên keri
  11. Chưa rõ là thời Lê nào, tiền Lê hay Hậu Lê? Khẳng định này cần xem xét, vì chưa có ghi chép nào thời đó, thế kỷ X, Lê Lương có 3.000 môn đệ, đất đai rộng lớn, hơn nữa khi đó chưa có sông Nhà Lê, nên đất làng Chè và làng Rị ngày nay liền một dải, nên rất có thể vùng đất này đã có người ở, có tên làng trước tiền Lê.
  12. Theo Địa chí huyện Thiệu Hóa, 2010.
  13. 1 2 "Danh sách di tích cấp quốc gia thuộc tỉnh Thanh Hoá". Website binhthuan.gov.vn. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2010.
  14. Quyết định số 2620/QĐ-UBND ngày 30 tháng 8 năm 2007 của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hoá

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích

[sửa | sửa mã nguồn]