Thick as a Brick

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Thick as a Brick
JethroTullThickAsABrick.jpg
Album phòng thu của Jethro Tull
Phát hành10 tháng 3 năm 1972
Thu âmTháng 10, 1971 tại Morgan Studios, London
Thể loạiProgressive rock, hard rock
Thời lượng43:46
Hãng đĩaChrysalis, Reprise
Sản xuấtIan Anderson
Thứ tự album của Jethro Tull
Aqualung
(1971)Aqualung1971
Thick as a Brick
(1972)
Living in the Past
(1972)Living in the Past1972

Thick as a Brickalbum phòng thu thứ năm của ban nhạc rock người Anh Jethro Tull, phát hành năm 1972. Điểm đáng chú ý của album này là chỉ gồm đúng một bài hát, kéo dài suốt album. Thick as a Brick được sáng tác có chủ định theo phong cách của một album chủ đề, cũng như một bản nhại (parody) "khoa trương" và "thổi phồng" của cái xu hướng ưu chuộng album chủ đề khi đó. Bìa đĩa gốc, được thiết kế cho trông giống một trang báo, ghi rằng album là tác phẩm phổ nhạc cho bản trường ca của một thiên tài 8 tuổi (hư cấu), dù thực ra phần lời được viết bởi thủ lĩnh ban nhạc, Ian Anderson. Album này nhận được cả sự ca ngợi từ các nhà phê bình và thành công thương mại khi đứng đầu bảng xếp hạng tại Mỹ.[1]

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Trưởng nhóm Ian Anderson rất ngạc nhiên với sự tiếp nhận của album trước đó, Aqualung (1971), như một "album chủ đề", thuật ngữ mà khi đó Anderson kiên quyết chối bỏ. Trong một bài phỏng vấn với In the Studio with Redbeard, Anderson trả lời rằng "nghĩ ra cái gì đó thực sự là bà mẹ tất cả các album chủ đề".[2] Lấy Monty Python làm nguồn ảnh hưởng, ông bắt đầu viết một tác phẩm kết hợp giữa âm nhạc phức tạp và óc hài hước, với ý tưởng rằng nó sẽ là một cú chọc vui vẽ thư thái vào thính giả, vào các nhà phê bình, và vào chính ban nhạc.[2]

Anderson phát biểu rằng "album là trò đùa cho những album của YesEmerson, Lake & Palmer, giống như phim Airplane!Airport"[3] và sau đó còn nói "một chút châm biếm về toàn bộ chủ đề của những album rock chủ đề."[4] Dẫu Anderson viết toàn bộ nhạc và lời, ông quyết định ghi rằng mình đồng sáng tác cùng một cậu học sinh hư cấu tên Gerald Bostock. Sự hài hước đủ nhẹ nhàng để một số người hâm mộ tin rằng Bostock là thật.[2]

Thu âm[sửa | sửa mã nguồn]

Nhóm nhạc có hai tuần để diễn tập trong phòng thu tầng hầm của Rolling StonesBermondsey.[5] Anderson chưa hoàn thành việc sáng tác, nên ông thức dậy sớm để chuẩn bị nhạc phẩm cho ban nhạc chơi ngày hôm đó.[6] Việc thu âm bắt đầu vào tháng 12 năm 1971 tại Morgan Studios, London.[5] Chỉ có phần đầu bài hát là được ban nhạc chơi thử trước khi vào thu âm. Phần còn lại được ghép nối trong phòng thu.[7] Anderson hồi tưởng rằng album cần một tuần để thu âm,[8] còn tay guitar Martin Barre nhớ rằng cả ban nhạc nghĩ ra nhiều ý tưởng khác nhau,[4] và một số phần được thu âm trong một lần duy nhất (one-take),[9] và mỗi thành viên đều có đóng góp quan trọng vào âm nhạc, với sự đóng góp đáng kể từ tay keyboard John Evan.[10]

Phong cách âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiều người cho rằng Thick as a Brick là tác phẩm progressive rock đầu tiên của Jethro Tull,[11] bốn năm sau khi họ phát hành album đầu tay (1968). Album có nhiều chủ đề về âm nhạc, time signaturenhịp độ thường biến đổi – tất cả đều rất thường thấy trong giới progressive rock. Thêm vào đó, các nhạc cụ như harpsichord, xylophone, timpani, violin, đàn luýt, trumpet, saxophone, và bộ dây được sử dụng—khác với kiểu rock ảnh hưởng bởi blues thời đầu của nhóm.[12]

Tiếp nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Đánh giá chuyên môn
Nguồn đánh giá
Nguồn Đánh giá
AllMusic 4.5/5 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar half.svg[13]
Robert Christgau C−[14]
Rolling Stone 5/5 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar full.svg[15]
Melody Maker tích cực[16]
New Musical Express tích cực[17]
Sputnik Music 5/5 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar full.svg[18]

Bài đánh giá của Rolling Stone rất tích cực, gọi Thick as a Brick "một trong những sản phẩm đột phá và phức tạp nhất của nhạc rock." Hơn nữa, bài đánh giá còn được ghi: "tiếng guitar của Martin Barre và keyboard của John Evan đặc biệt tỏa sáng, và cách hát của Ian không còn thô ráp nữa. Thick As A Brick là một thử nghiệm độc lập, thật vui khi biết rằng có ai đó trong rock có tham vọng vượt ngoài những track thông thường dài 4-5 phút, và có trí thông minh để nêu lên ý định của mình, trong tất cả sự phức tạp của họ, với nét duyên dáng rộng rãi."[15]

AllMusic cũng đánh giá cao album: "bản hùng ca đầu tiên của Jethro Tull là một kiệt tác trong biên niên sử của progressive rock, và một trong số ít các tác phẩm thuộc thể loại này vẫn còn đáng nghe hàng thập kỷ sau."[13]

Album đạt top 5 trên bảng xếp hạng tại Anh, và số một ở Mỹ, Canada và Úc.[19][1][20]

Thick as a Brick được xếp ở vị trí 2 trong danh sách top album của Prog Archives, với điểm trung bình 4.64.[21]

ProgMagazine đặt Thick as a Brick tại số năm 5 trong danh sách The 100 Greatest Prog Albums of All Time,[22] còn Rolling Stone cho album ở số 7 trong danh sách Top 50 Prog Albums of all time của họ.[23]

Danh sách bài hát[sửa | sửa mã nguồn]

Toàn bộ phần lời viết bởi "Gerald Bostock" (Ian Anderson), toàn bộ phần nhạc soạn bởi Anderson [10].

Mặt 1
STT Tên bài hát Thời lượng
1. "Thick as a Brick, Part I"   22:40
Mặt 2
STT Tên bài hát Thời lượng
2. "Thick as a Brick, Part II"   21:06

Bảng xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Bảng xếp hạng Vị trí
1972 Billboard 200 1
Australian Kent Music Report Albums Chart
Canadian Albums Chart
Tiền nhiệm:
First Take của Roberta Flack
Album số một Billboard 200
3–16 tháng 6 năm 1972
Kế nhiệm:
Exile on Main St. của The Rolling Stones
Tiền nhiệm:
Machine Head của Deep Purple
Album số một Australian Kent Music Report
10 tháng 7 – 24 tháng 9 năm 1972
Kế nhiệm:
Slade Alive! của Slade

Thành phần tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Jethro Tull
Nhạc công khác

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Nollen 2002, tr. 81.
  2. ^ a ă â Rees 1998, tr. 48.
  3. ^ “7/10: Ian Anderson of Jethro Tull at Symphony Hall”. Ngày 7 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2014. 
  4. ^ a ă Nollen 2002, tr. 83.
  5. ^ a ă Nollen 2002, tr. 82.
  6. ^ Rees 1998, tr. 48–49.
  7. ^ Morse, Tim. “Classic Tracks: Jethro Tull's Thick as a Brick”. Mix 72: 176. 
  8. ^ Rees 1998, tr. 49.
  9. ^ Nollen 2002, tr. 84.
  10. ^ a ă “Dear Guitar Hero: Jethro Tull Guitarist Martin Barre”. guitarworld.com. 
  11. ^ Smith, Bradley (2007). The Billboard guide to progressive music. Billboard Books. tr. 114. ISBN 9780823076659. 
  12. ^ a ă Anderson 1972, tr. 7.
  13. ^ a ă Bruce Eder. “Thick as a Brick - Jethro Tull | Songs, Reviews, Credits, Awards”. AllMusic. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2014. 
  14. ^ “CG: jethro tull”. Robert Christgau. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2014. 
  15. ^ a ă “Jethro Tull Press: Rolling Stone, ngày 22 tháng 6 năm 1972”. Tullpress.com. Ngày 22 tháng 6 năm 1972. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2014. 
  16. ^ “Jethro Tull Press: Melody Maker, ngày 11 tháng 3 năm 1972”. Tullpress.com. Ngày 11 tháng 3 năm 1972. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2015. 
  17. ^ “Jethro Tull Press: NME, ngày 11 tháng 3 năm 1972”. tullpress.com. 
  18. ^ “Jethro Tull - Thick as a Brick (album review 4)”. Sputnikmusic.com. Ngày 29 tháng 9 năm 2005. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2015. 
  19. ^ Rees 1998, tr. 51.
  20. ^ “Album artist 51 - Jethro Tull”. Tsort.info. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2015. 
  21. ^ “Progressive Rock Top Albums / all subgenres”. Progarchives.com. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2015. 
  22. ^ “The 100 Greatest Prog Albums Of All Time: 20-1”. Prog. Truy cập 27 tháng 10 năm 2015. 
  23. ^ “Jethro Tull, 'Thick as a Brick' (1972) - 50 Greatest Prog Rock Albums of All Time”. Rolling Stone. Truy cập 27 tháng 10 năm 2015. 
Sách
  • Nollen, Scott Allen (2002). Jethro Tull: A History of the Band, 1968–2001. McFarland. ISBN 9780786411016. 
  • Anderson, Ian (1972). Thick as a Brick. Jethro Tull. Chrysalis Records. CHR 1003. 
  • Rees, David (1998). Minstrels in the Gallery: A history of Jethro Tull. Firefly. ISBN 0-946719-22-5. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:Jethro Tull