Thuận Thiên (Hoàng phi)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Thuận Thiên Cao Hoàng hậu)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thuận Thiên Cao hoàng hậu
順天高皇后
Hoàng thái hậu Đại Nam
Tại vị 1820 - 1841
Tiền nhiệm Ý Tĩnh Khang hoàng hậu
Kế nhiệm Từ Dụ Thái hậu
Thái hoàng thái hậu Đại Nam
Tại vị 1841 - 1846
Tiền nhiệm Không có
Thái hoàng thái hậu đầu tiên của triều đại
Kế nhiệm Từ Dụ Thái hoàng thái hậu
Thông tin chung
Phu quân Gia Long
Hậu duệ
Tên đầy đủ Trần Thị Đang (陳氏璫)
Tước hiệu Tả cung tần
Nhị phi
Hoàng thái hậu
Thái hoàng thái hậu
Thụy hiệu Thuận Thiên Hưng Thánh Quang Dụ Hóa Cơ Nhân Tuyên Từ Khánh Đức Trạch Nguyên Công Cao Hoàng hậu
(順天興聖光裕化基仁宣慈慶德澤元功高皇后)
Hoàng tộc Nhà Nguyễn
Thân phụ Trần Hưng Đạt
Thân mẫu Phu nhân Lê Thị Cầm
Sinh 4 tháng 1 năm 1769
(27 tháng 11 năm Mậu Tý)
Làng Văn Xá, Phú Ốc, huyện Hương Trà, phủ Thừa Thiên
Mất 6 tháng 11, 1846 (77 tuổi)
Phú Xuân, Đại Nam
An táng Thiên Thọ Hữu Lăng (天授右陵)

Thuận Thiên Cao Hoàng hậu (chữ Hán: 順天高皇后, 4 tháng 1 năm 1769 - 6 tháng 11 năm 1846), hay còn gọi theo tên truy tôn là Thánh Tổ mẫu (聖祖母) hoặc Nhân Tuyên hoàng thái hậu (仁宣皇太后), là một phi tần của Gia Long, sinh mẫu của Nguyễn Thánh Tổ Minh Mạng và là bà nội của Nguyễn Hiến Tổ Thiệu Trị.

Bà cùng Thừa Thiên Cao Hoàng hậu là hai người vợ gắn bó với Gia Long thuở hàn vi, lập nghiệp. Bà hưởng phúc đến đời cháu Thiệu Trị hoàng đế, ở ngôi vị cao quý nhất cung đình nhà Nguyễn, từ khi Thừa Thiên Cao Hoàng hậu mất vào năm 1814 đến khi bà qua đời vào năm 1846, tổng cộng 32 năm.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Bà tên húy là Đang (璫), lại húy là Kính (敬) con gái thứ của Thọ Quốc công Trần Hưng Đạt (陳興達) (1746 - 1810) và Thọ Quốc phu nhân Lê thị.[1]. Gia tộc bà vốn gốc Thanh Hóa, tiên tổ là Trần Phúc Tư buổi đầu năm 1558 theo chúa Tiên Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa lập nghiệp, định cư ở huyện Hương Trà, phủ Thừa Thiên.[2]

Cụ nội bà là Trần Mậu Tài (陳茂材), được truy phong Thị trung trực Học sĩ, tước Văn Xá bá (文舍伯); Tổ phụ Trần Mậu Quế (陳茂桂) được phong Lại bộ Thượng thư, tước Gia Bình Hầu (嘉平侯).

Gia Long phi thiếp[sửa | sửa mã nguồn]

Khi quân Trịnh vào đánh chiếm Phú Xuân (đầu năm 1775), Nguyễn Thị Hoàn lánh nạn ở làng An Dụ, Cửa Tùng, bà được tuyển vào hầu cận vì là con nhà danh giá. Năm 1778, Nguyễn Ánh sai người rước mẹ vào Gia Định, qua năm Kỷ Hợi 1779, bà cùng các chị em của Nguyễn Ánh cũng vào theo. Bà khi 12 tuổi (1781) được tấn phong là Tả cung tần (左宮嬪), xưng là Nhị phi (二妃).

Khi quân Tây Sơn còn mạnh thế, bà theo Nguyễn Ánh phiêu bạt nhiều nơi, đêm thường thắp hương cầu khẩn: "Lúc này vận nước còn khó khăn, chưa dược an định, nếu sinh con mà bỏ đi thì bất nhân mà mang theo chỉ bận lòng chúa thượng. Nếu số mệnh có con thì xin thái bình rồi mới sinh, mong trời ban được như thế"[2].

Năm 1788, sau khi Nguyễn Ánh chiếm lại được Gia Định, một đêm bà nằm mộng thấy một vị thần dân lên một cái tỉ và hai cái ấn; cái tỉ màu sắc đỏ bóng nhẫy tươi sáng như mặt trời; một cái ấn thì sắc tía, cái kia thì sắc rất nhạt, bà nhận lấy tất cả[2].

Năm 1791, bà sinh ra tứ hoàng tử Đảm, tức Minh Mạng, ở thôn Hoạt Lộc (thuộc Gia Định)[1][2], sau đó là Kiến An Vương Đài, Hoàng tử Diệu (mất từ nhỏ) và Thiệu Hóa Quận vương Chẩn. Khi Đảm được lên 3 tuổi, Nguyễn Ánh đưa vào làm con của vợ cả là Nguyên phi Tống thị, Tống Nguyên phi yêu thương Hoàng tử như con mình.

Năm 1806, Gia Long sách lập Tống Phúc Vương hậu làm Hoàng hậu, bà với thân phận Phi tần cao nhất, giúp Hoàng hậu chuyện trong cung. Bấy giờ, Hoàng hậu đã mất hết con trong biến loạn, năm 1801 Thái tử Nguyễn Phúc Cảnh qua đời khi tuổi còn trẻ, Hoàng hậu đau lòng không thôi, Gia Long vì thương Hoàng hậu nên buộc tứ Hoàng tử Đảm luôn hầu bên trong cung.

Mẫu nghi thiên hạ[sửa | sửa mã nguồn]

Thời Minh Mạng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Minh Mạng thứ nhất (1820), bắt đầu xây cung Từ Thọ, phong thưởng cho người họ ngoại. Các quan cùng vua xin dâng tôn hiệu bà lên làm Hoàng thái hậu, bà cảm thấy Gia Long chưa chôn cất được bao lâu, Hoàng đế đương kim lại vì chuyện mà lo buồn, sợ hãi, ấy vì thế mà khước từ đi[2].

Năm 1821, Từ Thọ cung xây xong, Minh Mạng cùng bá quan dâng biểu tôn bà làm Hoàng thái hậu, vào ở trong cung Từ Thọ. Bà là người tính cần kiệm, từng đặt nhà thêu nuôi tằm trong cung, hằng ngày đều đến trông nom để làm vui.

Năm 1832, Minh Mạng truy tôn cha bà làm Đông các Học sĩ, Thái phó, phong là Hoa Quốc công (華國公), Lê Phu nhân mẹ bà là Nhất phẩm Hoa Quốc phu nhân (一品華國夫人). Miễn thuế lệ tô ruộng cho làng họ ngoại 5 năm, cho thêm tiền để cung việc tế tự 3 từ đường họ Trần là 1000 quan.

Khi Minh Mạng đến hầu cơm, bà thường đứng dậy đi lại để tỏ ra khỏe mạnh, lại dạy rằng: "Ta biết Hoàng đế chăm lo suốt ngày, há nỡ lấy cái tuổi gần 70 mà lại làm lụy cho con, cho nên hàng ngày cố gắng ăn thêm, tự thấy tâm thần thảnh thơi, Hoàng đế nên chớ phải lo". Hoàng đế cả mừng, khóc lạy tạ[2].

Năm 1837, mùa đông, tháng 11, ngày 16, Hoàng đế cùng bá quan tôn hiệu bà là Nhân Tuyên Từ Khánh Hoàng Thái Hậu (仁宣慈慶皇太后). Sách văn rằng:

Năm 1840, Minh Mạng mất, tôn chiếu Hoàng tử trưởng Trường Khánh Công Miên Tông lên nối ngôi, tức Thiệu Trị. Quan đại thần Trương Đăng Quế tâu lên, bà dụ rằng: " Cha truyền con nối là đạo thường xưa, bọn ngươi phải dốc toàn tâm mà giúp đỡ tân đế".

Thời Thiệu Trị[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1841, Hiến Tổ Thiệu Trị dâng tôn hiệu cho bà là Nhân Tuyên Từ Khánh Thượng Thọ Thái Hoàng Thái Hậu (仁宣慈慶福壽康寧太皇太后).

Bà thường thong dong bảo Thiệu Trị về việc tin dùng người cũ, tuân theo phép nước, khéo nối chí, khéo léo theo việc mới là hiếu, đáng làm trưởng, đáng làm Đế mới là người trên. Lại cho bài luận về vua tôi, dạy bảo rất cặn kẽ cho Hiến Tổ nghe. Mùa hạ cùng năm, truy phong cha bà lên làm Cần chính điện đại học sĩ Thái sư, tước hiệu là Thọ Quốc công (壽國公), Lê phu nhân là Thọ Quốc nhất phẩm phu nhân (壽國一品夫人).

Khi Thiệu Trị đến hầu cơm, bà dụ rằng: " Hoàng đế hầu cơm, đi bằng đầu gối, dâng đũa chính tay điều hòa nước canh, vui vẻ dâng chén, nhất nhất đều tuân theo chí của người trước, tình lễ thực là đầy đủ cả". Hoàng đế giơ tay lên trán mà lạy tạ.

Bà thường dạo chơi vườn Thường Mậu, lên lầu Ký Ân, xa có thể trông thấy ruộng tịch điền. Rồi bà quay qua Thiệu Trị mà nói câu đại ý: Đức Thánh Tổ Nhân hoàng đế (tức Minh Mạng) quả là người cha yêu con. Khi xây dựng lầu này, cốt là sợ cái sự xa hoa mà làm hư mất Hoàng đế (chỉ Thiệu Trị), không biết lo cho dân, thương nhà nông. Xây dựng lầu này trước cung của Hoàng đế, cốt là nhắc nhở cái ruộng tịch điền còn đó, biết cái khó nhọc của muôn dân; đừng có mà bắt chước xây vườn tược, cung điện, thực không phải là chí của người trước vậy.

Năm 1843, nhân trong cung có việc tôt là Ngũ Đại Đồng đường, việc hiếm thấy xưa nay, nên Hiến Tổ Thiệu Trị dân kim sách tấn tôn là Thánh Tổ Mẫu Nhân Tuyên Từ Khánh Phúc Thị Khang Ninh Thái Hoàng Thái Hậu (聖祖母仁宣慈慶福壽康寧太皇太后).

Năm 1844, Thái hoàng thái hậu đến chơi vườn Cơ Hạ. Hiến Tổ Thiệu Trị quỳ đón ở cửa vườn, đi trước dẫn đường, theo sau là võng chở bà đi thưởng ngoạn. Khi coi ao Minh Giám, thấy cá làm sóng gợn, câu được nhiều cá tốt, bà lại dụ rằng: Cá ở ao không lo chài lưới, đầm ruộng cũng chẳng hơn thế. Xưa kia Chiêu Liệt nhà Thục Hán đối với Gia Cát Vũ hầu lấy cá nước tương đắc với nhau mà làm câu ví, thực là câu nói hay. Vả đạo nhân quân làm chính trị, cốt nên thân người hiền xa kẻ gian, răn xa xỉ, chuộng tiết kiệm, Hoàng đế nhớ kỹ mà làm.

Tháng 8 năm Bính Ngọ (1846), Thái hoàng thái hậu lâm bệnh nặng, qua ngày 18 tháng 9 âm lịch thì qua đời, hưởng thọ 79 tuổi, quan tài để ở Từ Thọ Cung. Tháng 11 ngày 20 (6 tháng 1 năm 1847), Hiến Tổ Thiệu Trị dâng tôn hiệu là Thuận Thiên Hưng Thánh Quang Dụ Hóa Cơ Nhân Tuyên Từ Khánh Đức Trạch Nguyên Công Cao Hoàng hậu (順天興聖光裕化基仁宣慈慶德澤元功高皇后), gọi tắt là Thuận Thiên Cao Hoàng Hậu (順天高皇后).

Tháng 12, ngày Canh Thân (25 tháng 1, 1847), táng ở bên hữu lăng Thiên Thọ, trên núi Thuận Sơn, huyện Hương Trà). Tháng 11 năm Mậu Thân (1848), thần chủ của bà được rước về thờ ở Chánh án Thế Miếu, ở bên trái thần chủ của Thế Tổ.

Hậu duệ[sửa | sửa mã nguồn]

Thuận Thiên Cao hoàng hậu sinh được 4 người con trai:

  1. Nguyễn Phúc Đảm [阮福膽], tức Minh Mạng.
  2. Nguyễn Phúc Đài (阮福旲; (5 tháng 10 năm 1795 - 14 tháng 11 năm 1849) tên khác là Nguyễn Phúc Duệ (阮福曳), tôn hiệu là Kiến An Cung Thuận Vương (建安恭慎王).
  3. Hoàng tử tên Hiệu, mất sớm.
  4. Nguyễn Phúc Chẩn (阮福昣; 30 tháng 4 năm 1803 - 26 tháng 10 năm 1824), tên khác là Nguyễn Phúc Khuê (阮福晆) tôn hiệu là Thiệu Hóa Cung Lương Quận Vương (紹化恭良郡王).

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Thi Long (1998). Nhà Nguyễn chín Chúa mười ba Vua. Da Nang: Đà Nẵng Publishing House. pp. 85.
  2. ^ a ă â b c d Đại Nam Liệt Truyện, tập 2, Chính biên - Sơ tập. Nhà xuất bản Thuận Hóa, sách đã dẫn.