Thuyết tiến hoá tổng hợp

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Sơ đồ các tư tưởng đã kết hợp lại trong trong sinh học tiến hóa đầu thế kỷ 20.

Thuyết tiến hoá tổng hợp là học thuyết tiến hoá hiện đại, tổng hợp các thành tựu khoa học từ học thuyết chọn lọc tự nhiên, di truyền học Mendel và nhất là di truyền học quần thể cùng một số môn khoa học khác liên quan, do nhiều nhà khoa học xuất sắc trên thế giới về sinh học tiến hoá xây dựng nên.[1], [2], [3], [4], [5], [6]

Đây là một lý thuyết khoa học về quá trình tiến hóa của sinh vật, hình thành vào những năm 1930 và 1940 với sự đóng góp chủ yếu của Julian Huxley, G. Ledyard Stebbins, Theodosius Dobzhansky, John Burdon Sanderson Haldane, Ronald Fisher, Sewall Wright, G. Ledyard StebbinsErnst Mayr.[2], [3] Ngoài ra còn có những đóng góp khác từ những ý tưởng của William Bateson, Udny Yule (từ năm 1902), sau đó là của Ronald Fisher (từ năm 1918) và sau đó là của E. B. Ford, Bernhard Rensch, Ivan SchmalhausenGeorge Gaylord Simpson.

Thuật ngữ này trong tiếng Anh là "Evolutionary modern synthesis Theory", nhưng thực ra là bắt nguồn từ thuật ngữ The Modern Synthesis (Tổng hợp hiện đại) mà Julian Huxley đề xuất trong tác phẩm nổi tiếng của ông xuất bản lần đầu vào năm 1942 với tựa đề cùng tên về tiến hoá.[7]

Thuyết tiến hóa tổng hợp không chỉ kết hợp và dung hoà các kiến thức tinh tuý về chọn lọc tự nhiên của Charles Darwin với di truyền học Mendel, mà còn tổng hợp thêm các thành tựu hiện đại trong di truyền học quần thể, phân loại học, cổ sinh học đương thời nhằm giải thích quá trình tiến hóa của sinh giới dựa trên các thay đổi về di truyền trong quần thể dẫn đến sự hình thành loài mới (tiến hoá nhỏ) và các nhóm phân loại lớn hơn (tiến hoá lớn).[3], [8] Thuyết tiến hóa tổng hợp ngay từ khi ra đời đã được hầu hết các nhà khoa học chấp nhận. Sự ra đời của nó đã chấm dứt thời kỳ khủng hoảng trong sinh học tiến hoá mà chỉ riêng học thuyết Darwin hoặc chỉ riêng học thuyết Mendel không thể giải thích được - do hạn chế của khoa học đương thời, nên sau khi xuất hiện, nó còn được gọi với tên là học thuyết Darwin mới (Neo-Darwinian Theory) nay vẫn đôi khi dùng.

Tuy nhiên gần đây, các lý thuyết tổng hợp khác nhau về quá trình tiến hoá đã phát triển trên nhiều lĩnh vực khác và dẫn đến sự thay đổi đến mức có thể có sự thay thế thuyết tiến hoá tổng hợp hiện đại này bằng hậu hiện đại do các thành tựu của E. O. Wilson (năm 1975,) và thuyết tiến hoá tổng hợp mở rộng của Massimo Pigliucci (năm 2007), mà theo nhà sinh học tiến hóa Eugene Koonin (năm 2009) thì sẽ có những thay đổi mang tính cách mạng nhờ các thành tựu trong sinh học phân tử về tiến hoá phân tử và khám phá mới về bộ gen của các loài.[9]

Nguồn trích dẫn[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Campbell và cộng sự: "Sinh học" - Nhà xuất bản Giáo dục, 2010.
  2. ^ a ă “Modern Synthesis”. 
  3. ^ a ă â “Modern Evolutionary Synthesis: Definition & Formation”. 
  4. ^ Phạm Thành Hổ: "Di truyền học" - Nhà xuất bản Giáo dục, 2004.
  5. ^ Đỗ Lê Thăng: "Giáo trình di truyền học" - Nhà xuất bản Giáo dục, 2007.
  6. ^ “Modern Synthetic Theory of Evolution”. 
  7. ^ Julian Huxley. “Evolution: The Modern Synthesis”. 
  8. ^ Laurence A. Moran (2006). “Random Genetic Drift”. 
  9. ^ Eugene V. Koonin. “The Origin at 150: is a new evolutionary synthesis in sight?”.