Thuyết văn giải tự

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm


Thuyết văn giải tự
Shuowen.jpg
Bìa sách in lại của một quyển "Thuyết văn giải tự" chân bản thời Nhà Tống
Phồn thể 說文解字
Giản thể 说文解字
Nghĩa đen "Explaining Graphs and Analyzing Characters"

Thuyết văn giải tự (tiếng Trung: 說文解字; bính âm: Shuōwén Jiězì; Wade–Giles: Shuo1-wen2 chieh3-tzu4; nghĩa đen: "Explaining Graphs and Analyzing Characters"), thường được gọi tắt là Thuyết văn, là tự điển chữ Hán xuất hiện hồi đầu thế kỷ thứ II trong thời Nhà Hán. Mặc dù không phải là cuốn tự điển chữ Hán ra đời đầu tiên được biết đến (quyển Nhĩ Nhã 爾雅 đã ra đời trước đó), Thuyết văn giải tự là sách đầu tiên phân tích cấu tạo Hán tự và giảng giải các thành tố cấu tạo chữ, và cũng là nơi đầu tiên nhóm các chữ Hán theo bộ thủ (bùshǒu 部首).

Bối cảnh biên soạn[sửa | sửa mã nguồn]

Hứa Thận, học giả thuộc nhóm Ngũ Kinh thời Nhà Hán, là người biên soạn Thuyết văn giải tự. Ông hoàn thành sách này vào năm 100 Công Nguyên, nhưng bởi do thái độ thiếu thiện cảm với giới nho sĩ từ triều đình, phải đợi đến năm 121 ông mới giao cho con là Hứa Xung dâng lên Hán An Đế.

Để phân tích cấu trúc chữ và giảng nghĩa của nó, Xu Shen strove to disambiguate the meaning of the pre-Han Classics, so as to render their usage by government unquestioned and bring about order, and in the process also deeply imbued his organization and analyses with his philosophy on characters and the universe. Theo Boltz (1993:430), việc biên soạn Thuyết văn "cannot be held to have arisen from a purely linguistic or lexicographical drive." Động cơ biên soạn tác phẩm này mang nặng tính giáo điều và chính trị. Suốt thời Nhà Hán, the prevalent theory of language was Confucianist Rectification of Names, tin rằng việc sử dụng đúng tên vật là điều cần thiết cho một chính quyền hợp thức. Bài tựa cuốn Thuyết văn giải tự (tr. Thern 1966:17) có giải thích: "Now the written language is the foundation of classical learning, the source of kingly government." Compare how the postface describes the legendary invention of writing for governmental rather than for communicative purposes:

Cang Jie, scribe for the Yellow Emperor, on looking at the tracks of the feet of birds and animals, realizing that the patterns and forms were distinguishable, started to create graphs, so that all kinds of professions could be regulated, and all people could be kept under scrutiny. (tr. Thern 1966:17)

Các tự điển ra đời trước Thuyết văn như Nhĩ NhãPhương ngôn liệt kê với số lượng hạn chế các từ đồng nghĩa được tổ chức lỏng lẽo theo cách phân loại ngữ nghĩa, khiến việc tra cứu trở nên khó khăn. Trong Thuyết văn giải tự,Hứa Thận sắp xếp Hán tự theo hướng phân tích chữ qua các bộ phận giống nhau của chữ Hán, mà Boltz (1993:431) cho rằng "một sáng kiến lớn lao về mặt lý thuyết trong việc hiểu hệ thống chữ viết Trung Quốc".

Cấu trúc[sửa | sửa mã nguồn]

540 bộ thủ Thuyết văn giải tự viết theo lối triện thư

Hứa Thận soạn Thuyết văn giải tự qua việc phân tích chữ triện (đặc biệt là loại tiểu triện 小篆) được hình thành chậm rãi và có hệ thống từ giữa đến cuối thời Nhà Chu trong lịch sử nước Tần, rồi được tiêu chuẩn hóa và thống nhất lại trong thời Nhà Tần và được truyền bá trên cả nước. Do đó, Needham và các đồng sự (1986: 217) mô tả Thuyết văn giải tự là "cuốn cẩm nang cổ xưa và cũng là một cuốn tự điển".

Sách gồm một bài tựa và 15 thiên. Mười bốn thiên đầu liệt kê các chữ Hán; thiên thứ 15 và cũng là thiên cuối cùng được chia thành hai phần: a postface and an index of section headers. Trong lời bạt, Hứa Thận nói quyển tự điển này chứa 9.353 văn, trùng là 1.163, tổng cộng là 133.441 chữ. The transmitted texts vary slightly in content, owing to omissions and emendations by commentators (especially Xú Xuàn, see below), and modern editions have 9,831 characters and 1,279 variants.