Tiên Điền

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Tiên Điền

Thị trấn
Hành chính
VùngBắc Trung Bộ
TỉnhHà Tĩnh
HuyệnNghi Xuân
Thành lập
  • 1/3/1988: thành lập thị trấn Nghi Xuân[1]
  • 21/11/2019: thành lập thị trấn Tiên Điền
Địa lý
Tọa độ: 18°39′57″B 105°45′26″Đ / 18,66583°B 105,75722°Đ / 18.66583; 105.75722Tọa độ: 18°39′57″B 105°45′26″Đ / 18,66583°B 105,75722°Đ / 18.66583; 105.75722
Diện tích5,05 km2[2]
Dân số (2018)
Tổng cộng5.656 người
Mật độ1.120 người/km2
Khác

Tiên Điền là một thị trấn thuộc huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, Việt Nam.

Thị trấn Tiên Điền có làng Tiên Điền, xưa thuộc phủ Đức Quang, trấn Nghệ An, là quê hương của Đại thi hào Nguyễn Du và nhiều danh nhân, nhà khoa bảng nổi tiếng.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Thị trấn Tiên Điền nằm ở phía bắc huyện Nghi Xuân, có vị trí địa lý:

Thị trấn Tiên Điền có diện tích 5,05 km2, dân số năm 2018 là 5.656 người, mật độ dân số đạt 1.120 người/km2.[2]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu thời Lê, nơi đây còn là bãi bồi hoang vu, người ở thưa thớt, nằm ven bờ sông Cả (Lam Giang), mang cái tên buồn thảm Vô Điền (không ruộng), U Điền (ruộng hoang rậm). Qua hàng trăm năm, con người đã đổ công sức khai phá để quê mình có cái tên Tân Điền.

Đầu thế kỷ XVII, Tân Điền được đổi thành Phú Điền do kị húy của vua Lê Kính Tông (1599 - 1618).

Sau đó, chưa rõ vào thời gian nào, Phú Điền lại đổi thành Tiên Điền.

Đầu đời Cảnh Hưng, đội quân tình nguyện toàn lính Tiên Điền có công bảo vệ kinh thành Thăng Long, làng được ban tên "xã Trung Nghĩa".

Thời nhà Nguyễn, Tiên Điền thuộc tổng Phan Xá, huyện Nghi Xuân.

Sau Cách mạng tháng Tám, từ năm 1947 đến 1953, làng Tiên Điền hợp nhất với làng Uy Viễn thành xã Tiên Uy.

Năm 1952, chia tách xã, làng Tiên Điền và một nửa làng Uy Viễn tách ra thành xã xã Xuân Tiên.

Năm 1973, xã Xuân Tiên đổi lại tên cũ là xã Tiên Điền.

Ngày 1 tháng 3 năm 1988, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định 22-HĐBT về việc phân vạch địa giới hành chính một số xã, thị trấn thuộc tỉnh Nghệ Tĩnh[1]. Theo đó, tách toàn bộ 59,30 ha diện tích tự nhiên và 507 nhân khẩu của xóm Tiến Hoà, xã Tiên Điền; toàn bộ 22,5 ha diện tích tự nhiên và 588 nhân khẩu của xóm Giang Thuỷ, xã Xuân Giang cùng 2.298 nhân khẩu là cán bộ, công nhân viên Nhà nước và người ăn theo của các cơ quan đóng trên địa bàn này để thành lập thị trấn Nghi Xuân, thị trấn huyện lỵ huyện Nghi Xuân.

Sau khi thành lập, thị trấn Nghi Xuân có 81,8 ha diện tích tự nhiên và 3.393 nhân khẩu. Xã Tiên Điền còn lại 373,7 ha diện tích tự nhiên và 5.483 nhân khẩu.

Ngày 21 tháng 11 năm 2019, sáp nhập toàn bộ 3,64 km2 diện tích tự nhiên và 3.086 người của xã Tiên Điền vào thị trấn Nghi Xuân để thành lập thị trấn Tiên Điền.[2]

Sau khi thành lập, thị trấn Tiên Điền có diện tích 5,05 km2, dân số là 5.656 người.

Danh nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Nói về những mặt nổi trội của đất Nghi Xuân thời Lê - Nguyễn, dân gian có câu: "Ló (lúa) Hoa (Xuân) Viên, quan Tiên Điền, tiền Hội Thống...". Địa bạc dân bần, nhưng Tiên Điền lại nổi tiếng lắm quan văn, quan võ, quan to, quan nhỏ, có thời trong làng đầy những công hầu khanh tướng, có nhà hiển hoạn cao khoa, có người là tể phụ triều đình.

Trong sách Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú viết: "Khoa giáp nổi trội hơn hẳn, danh thần, hiền phụ đứng hàng đầu trong phủ Đức Quang" là viết về Tiên Điền.

Dưới hai triều đại Lê - Nguyễn, Tiên Điền có 6 vị đỗ Đại khoa (1 hoàng giáp, 4 tiến sĩ đều là người họ Nguyễn, 1 phó bảng họ Hà) và 32 vị (29 hương cống, 3 cử nhân).

Những danh nhân, nhà khoa bảng, văn nhân và quan lại nổi tiếng:

  • Nguyễn Du: Đại thi hào dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới, tác giả Truyện Kiều.
  • Nguyễn Nghiễm: Hoàng giáp, Tể tướng triều Hậu Lê, tước Đại tư đồ Xuân Quận Công.
  • Nguyễn Quỳnh: Quan võ, tước Lĩnh Nam công.
  • Nguyễn Khản: Tiến sĩ, Thượng thư Bộ lại kiêm trấn thủ Sơn Tây, tước Toản quận công.
  • Nguyễn Hành: Nhà thơ, "An nam ngũ tuyệt", tác giả: Quan Đông hải thi tập, Minh Quyên thi tập, Thiên hạ nhân vật thư.
  • Nguyễn Thiện: Nhà thơ, tác giả: Đông phủ thi tập, Huyền cơ đạo thuật bí thư, Nhuận bút Hoa Tiên.
  • Nguyễn Huệ: Tiến sĩ cập đệ Tam giáp, tước Trung Trinh đại phu, Hàn lâm viện thừa chỉ, Tiên Lĩnh hầu. Năm Cảnh Hưng thứ 11, Trịnh Ân Vương bao phong Võ Đại vương Thượng đẳng Phúc thần.
  • Nguyễn Tán: Tiến sĩ cập đệ tam giáp, Đệ thất danh, tri phủ Khánh Hoà, làm Phân khảo trường Nam Định, rồi làm Đông tri phủ Vĩnh Tường.
  • Nguyễn Mai: Đệ tam giáp đồng tiến sĩ.
  • Hà Văn Đại: Phó bảng.
  • Đặng Sĩ Vinh: đậu Hoành từ, Đô ngự sử, Thiếu bảo tước Liêu quận công.
  • Hà Thúc Đạt: Huấn đạo
  • Nguyễn Trọng: Tước Lam khê hầu
  • Nguyễn Điều: Trúng tam trường thi Hội, làm quan đến chức Trấn thủ Hưng hoá, phong tước Điền Nhạc hầu...

Trong số những người nổi tiếng ngày nay xuất thân từ Tiên Điền có: Giáo sư, Nhà Khảo cổ học Hà Văn Tấn; Giáo sư, Tiến sĩ Y khoa Hà Văn Mạo; Tiến sĩ Y khoa Hà Văn Quyết; Thiếu tướng Đặng Văn Duy - nguyên Phó Ban Cơ yếu Trung ương, nguyên Chính ủy Bộ tư lệnh Không quân, Cục trưởng Cục Tuyên truyền đặc biệt thuộc Bộ Quốc phòng; Nhà sử học, nhà thơ Đặng Duy Phúc - nguyên Thành ủy viên Thành phố Hà Nội, Giám đốc Sở Công nghiệp Hà Nội - Ông có nhiều tác phẩm văn thơ có giá trị, đặc biệt cuốn: "Lịch sử Việt Nam viết bằng thơ", và một số tác phẩm viết về quê hương như "Về Tiên Điền nhớ Nguyễn Du", " Nguyễn Du với Thăng Long - Hà Nội"... Tiến sĩ Đặng Duy Báu - nguyên Bí thư Tỉnh ủy Hà Tĩnh; Tiến sĩ toán học Trần Quyết Thắng- nguyên Cục trưởng Cục A thuộc Văn phòng Trung ương Đảng; Tiến sĩ Nguyễn Hiếu - công tác tại Bộ Công an (cháu đời thứ 7 của Cụ Nguyễn Du); Tiến sĩ Đặng Quốc Khánh - Ủy viên dự khuyết BCH Trung ương Đảng, Bí thư tỉnh ủy Hà Giang...

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Di tích[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cụm di tích và khu lưu niệm Nguyễn Du bao gồm khu lưu niệm Nguyễn Du, đền thờ Nguyễn Huệ (anh cả của Nguyễn Nghiễm, bác ruột Nguyễn Du), mộ và đền thờ Nguyễn Nghiễm (cha Nguyễn Du), nhà thờ Nguyễn Trọng (chú ruột Nguyễn Du) và khu mộ Nguyễn Du.
  • Nhà thờ Thiếu bảo Đặng Sỹ Vinh, di tích lịch sử văn hóa năm 2003, được xây dựng từ năm 1770, thời vua Lê Hiển Tông.

Lễ hội[sửa | sửa mã nguồn]

Có lễ Tống Trùng tổ chức vào tháng 2 âm lịch: cúng ở đình thờ Thành hoàng, cúng trời đất, cầu yên mùa màng.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]