Bước tới nội dung

Tiêu Thuận Chi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Tiêu Thuận Chi
蕭順之
Thông tin chung
Sinh430
Mất492
Phối ngẫuTrương Thượng Nhu (张尚柔)
Hậu duệxem văn bản
Hoàng tộcnhà Lương
Thân phụTiêu Đạo Tứ (蕭道賜)

Tiêu Thuận Chi (chữ Hán: 蕭順之, 430 - 492), tự Văn Vĩ (文纬), là sinh phụ của Lương Vũ Đế Tiêu Diễn.

Cuộc đời

[sửa | sửa mã nguồn]

Tiêu Thuận Chi là người Lan Lăng, Trung Đô, là con trai của Giang Hạ vương Tham quân, Thái úy, sau truy Quang lộ đại phu Tiêu Đạo Tứ (萧道赐), có họ hàng gần với Tiêu Đạo Thành. Thuở trẻ, Tiêu Thuận Chi là người có dáng vẻ hiền lành nhưng khí phách anh dũng, rất thân thiết với Đạo Hành, có lần còn từng cứu khỏi một vụ ám sát nên rất được ông ta quý mến, phong làm Tư mã. [1] Nguyên Huy nguyên niên (473), cùng tướng Vương Sắc Cần (王勅懃) dẫn ba vạn quân đánh Bắc Ngụy nhưng bị tướng Uất Nguyên (尉元) đánh bại ở phía bắc sông Hoài.

Tiêu Đạo Thành xưng Đế, phong Lâm Tương Huyện hầu (临湘县侯), đến thời Nam Tề Vũ Đế do nghi kị nên không ban chức tước quá cao, lần lượt là: Thị trung, Dự Châu Thứ sử, Thái tử Chiêm sự, Đan Dương Thái thú. [2] Vĩnh Minh thứ tám (490), con trai Vũ Đế là Ba Đông vương Tiêu Tử Hương (蕭子響) nổi loạn, Thuận Chi được lệnh đem quân dẹp loạn, Tử Hương sau đó bị bắt giữ và xử tử. [3] Về sau, Vũ Đế thương nhớ con trai mà than khóc, Thuận Chi lo sợ mà lâm bệnh qua đời không lâu sau đó,[4] tặng Trấn Bắc Tướng quân, thụy Ý (懿). Về sau, Lương Vũ Đế truy phong cha mình làm Thái Tổ Văn Hoàng đế (太祖文皇帝).

Gia quyến

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Thân phụ: Tiêu Đạo Tứ (萧道赐)
  • Thân mẫu: Mỗ thị, thiếp của Đạo Tứ, sau được nhà Lương thờ tự riêng biệt.
  • Tiêu Thượng Chi (蕭尚之), tặng Văn Tuyên hầu (文宣侯). Con trai là Tiêu Linh Quân (萧灵钧) phong Đông Xương Huyện hầu (东昌县侯).
  • Tiêu Sùng Chi (蕭崇之, ? - 486), tặng Trung Giản hầu (忠简侯). Chính thất Bình quốc Thái phu nhân Mao thị (毛氏), trắc thất Vương thị (王氏, 461 - 488) là người Ngô quận, có bốn con trai.

Thê thiếp

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Chính thất Trương Thượng Nhu (张尚柔, ? - 471), người quận Phàn Dương, hậu duệ Tây Tấn Quảng Vũ hầu Trương Hoa, cháu gái Bộc Dương quận Thái thú Trương Thứ Huệ (张次惠), con gái Giao Châu Thái thú Trương Mục Chi (张穆之), kế mẫu Tiêu thị (蕭氏) là em họ của Thuận Chi. Sinh bốn con trai, sau tặng Hiến Hoàng hậu (獻皇后).
  • Thứ thất Lý thị (李氏), Phí thị (费氏), Trần thị (陈氏, ? - 516), Ngô thị (吴氏, ? - 486), sau đều được phong Thái phi (太妃).
  • Trưởng tử, Trường Sa Tuyên Vũ vương Tiêu Ý (蕭懿, ? – 500), mẹ là Trương Thượng Nhu, bị Tiêu Bảo Quyển ép tự sát. Có chín con trai.
  • Nhị tử, Vĩnh Dương Chiêu vương Tiêu Phu (萧敷, 461 - 497), mẹ là Trương Thượng Nhu, từng nhậm Lư Lăng vương Tư nghị Tham quân.
  • Tam tử, tức Lương Vũ Đế, mẹ là Trương Thượng Nhu.
  • Tứ tử, Hành Dương Tuyên vương Tiêu Sướng (蕭暢, 460 - 500), mẹ là Trương Thượng Nhu. Được phong Giang Lăng Huyện hầu (江陵县侯), bị Tiêu Bảo Quyển xử tử. Có con trai là Tiêu Nguyên Giản (萧元简, ? - 519) kế thừa tước vị.
  • Ngũ tử, Tuế Dương Giản vương Tiêu Dung (萧融, 472 - 501), mẹ là Lý thị. Nhậm Thái tử Xá nhân, bị Tiêu Bảo Quyển xử tử. Vợ là Quế Dương Quốc Thái phi Vương Toản Thiều (王纂韶, 473 - 514), hậu duệ Vương Đạo, con gái Hoàng môn lang Vương Tăng Thông (王僧聪), không có con trai nên lấy thứ tử của Tiêu Ý là Tiêu Tượng (萧象) thừa tập tước vị.
  • Lục tử, Lâm Xuyên Tĩnh Huệ vương Tiêu Hoành (蕭宏, 473 - 526), mẹ là Trần thị. Nhậm Dương Châu Thứ sử, từng dẫn quân đi đánh Bắc Ngụy, tuy vậy lại tham lam vô độ, lại gian dâm với cháu gái là Vĩnh Hưng Công chúa Tiêu Ngọc Diêu (蕭玉姚) - trưởng nữ của Vũ Đế, sau bị phát giác, sợ hãi mà qua đời. Vợ là Vương phi Bành Thành Lưu thị (彭城劉氏), có bảy con trai và một con gái bao gồm Tiêu Chính Đức.
  • Thất tử, An Thành Khang vương Tiêu Tú (萧秀, 475 - 518), mẹ là Ngô thị. Thuở nhỏ được Trần thị nuôi dưỡng, nhậm Thái tử Xá nhân, Phụ quốc Tướng quân, Sử trì tiết, Trung thư lệnh, Ung Châu Thứ sử, khi mất truy tặng Thị trung, Tư không. Có ba con trai.
  • Bát tử, Nam Bình Nguyên Tương vương Tiêu Vĩ (萧伟, 476 - 533), mẹ là Trần thị. Nhậm Quan quân Tướng quân, Sử trì tiết, Tán kị thường thị, Nam Từ Châu Thứ sử, Tả quang lộc đại phu, Khai phủ nghi đồng tam tư, khi mất truy tặng Thị trung, Thái tể. Có bốn con trai.
  • Cửu tử mất sớm.
  • Thập tử, Bà Dương Trung Liệt vương Tiêu Khôi (萧恢, 476 - 526), mẹ là Phí thị. Nhậm Thái tử Xá nhân, Chinh lỗ tướng quân, Bình Tây tướng quân, Kinh Châu Thứ sử, Tán kị thường thị, Lĩnh quân tướng quân, khi mất truy tặng Thị trung, Tư đồ. Vợ là Bà Dương Vương phi Trần Lưu Nguyễn thị (陈留阮氏), con gái Thái úy Nguyễn Ngạn (阮彦), có một trăm người con. [5]
  • Thập nhất tử, Thủy Hưng Trung Vũ vương Tiêu Đan (萧憺, 478 - 522), mẹ là Ngô thị. Nhậm Quan quân tướng quân, Sử trì tiết, Kinh Châu Thứ sử, Hộ quân tướng quân, Trung thư lệnh, Vệ úy khanh, Thị trung, Khai phủ nghi đồng tam tư, khi mất truy tặng Tư đồ, Phiêu kị tướng quân. Có năm con trai.
  • Trưởng nữ, tên Tiêu Lệnh Nghi (蕭令嫕), mẹ là Trương Thượng Nhu. Được phong Nghi Hưng Trưởng Công chúa (义兴长公主), lấy Đông Dương quận Thái thú Vương Lâm (王琳) của sĩ tộc Lang Nha Vương thị.
  • Nhị nữ, mất trước khi nhà Lương thành lập, sau tặng Tín An Công chúa (新安公主). Lấy Vương Mậu Chương (王茂璋), có một con trai là Vương Xung (王冲).

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ 《南齊書·蕭嶷傳》:太祖帶南兖州,鎮軍府長史蕭順之在鎮,憂危旣切,期渡江北起兵。
  2. ^ 《南齊書·武帝紀》:〔永明三年八月〕戊午……太子詹事蕭順之爲領軍將軍。
  3. ^ 《南齊書·蕭子響傳》:「上又遣丹陽尹蕭順之領兵繼至,子響部下恐懼,各逃散,子響乃白服降,賜死。」《南史》同
  4. ^ 《資治通鑑》:上思子響,因嗚咽流涕。茹法亮頗為上所責怒,蕭順之慚懼,發疾而卒。
  5. ^ 《南史·卷五十二·列传第四十二》:有男女百人,男封侯者三十九人,女主三十八人。世子範嗣。