Bước tới nội dung

Tiền Đại Hân

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Tiền Đại Hân
錢大昕
Chân dung Tiền Đại Hân lấy từ cuốn Thanh đại học giả tượng truyện.
Sinh1728
Tô Châu, Giang Tô
Mất1804 (7576 tuổi)
Tô Châu, Giang Tô
Nghề nghiệpSử gia, nhà ngôn ngữ học

Tiền Đại Hân (giản thể: 钱大昕; phồn thể: 錢大昕; Wade–Giles: Ch'ien Ta-hsin; 16 tháng 2 năm 1728 – 21 tháng 11 năm 1804), tự Hiểu Chinh (晓徵), Cập Chi (及之), hiệu Tân Mi (辛楣), còn có biệt hiệu là Trúc Đinh (竹汀), là sử gia và nhà ngôn ngữ học thời Thanh, đồng thời là nhân vật đại diện của học phái Càn Gia.[1][2]

Tiểu sử

[sửa | sửa mã nguồn]

Thân thế và học vấn

[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền Đại Hân chào đời ngày mồng 7 tháng Giêng năm Ung Chính thứ 6 (1728), tại huyện Gia Định, tỉnh Giang Tô[a] trong một gia đình không mấy tiếng tăm. Tổ quán của Tiền Đại Hân ở thôn Song Phượng, huyện Thường Thục. Tổ tiên ông sau đó di cư đến Thịnh Kính, huyện Gia Định, rồi lại chuyển đến Vọng Tiên Kiều. Ông nội của ông là Tiền Vương Quýnh, vốn chỉ là một tú tài tinh thông Tiểu học[b], hưởng thọ 92 tuổi. Cha ông là Tiền Quế Phát, cũng là tú tài, và mẹ ông là Thẩm thị. Ông nội của Tiền Đại Hân làm nghề dạy học ở trường tư, Tiền Đại Hân năm lên 10 tuổi đã bắt đầu theo ông đến trường tư thục học, lúc đầu học theo lối học khoa cử thông thường, về sau chuyên chỉ học văn tự huấn hỗ, âm vận và Đường thi.

Năm ông vừa tròn 15 tuổi đến thành Gia Định học với Cống sinh Tào Quế Phương, cùng học còn có con trai của thầy là Tào Nhân Hổ và mười mấy học sinh khác. Mùa hè năm đó, Tiền Đại Hân thi đỗ Tú tài, lại kết thân với Vương Minh Thịnh. Sau khi Tiền Đại Hân thi đỗ Tú tài, vẫn chưa thi đỗ kỳ thi hương mà lại kết bạn được với Tú tài Vương Sưởng. Không lâu sau, Tiền Đại Hân lại nối nghiệp ông nội ra làm thầy giáo ở trường tư. Chủ nhân của nhà trường nơi Tiền Đại Hân dây học có rất nhiều sách vở, tạo cơ hội tốt cho Tiền Đại Hân mở mang học thức của mình. Ông một mặt dạy học, một mặt miệt mài đọc sách sử từ sáng đến đêm không hề mệt mỏi. Không may cho Tiền Đại Hân khi ông hai lần đi thi hương đều bị trượt, mãi đến năm 22 tuổi, nhờ sự giới thiệu của người bạn thân là Vương Sưởng, Tiền Đại Hân đến học ở một trường nổi tiếng tại Tô Châu gọi là Sài Dương thư viện. Khi mới đến thư viện phải làm bài thi, bài thi văn lấy Chu lễVăn hiến thông khảo làm luận đề, Tiền Đại Hân trổ tài làm văn, khiến cho các danh gia đang học tại trường đều khâm phục.[3]

Khoa cử và học thuật

[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Càn Long thứ 16 (1751), Càn Long Đế tuần du Giang Nam lần thứ nhất. Vừa đến Nam Kinh, các sĩ tử vùng Giang Chiết đều dâng tiến thơ phú, bài phú của Tiền Đại Hân được tuyển chọn dâng vua, được triệu đến Nam Kinh, tham dự kỳ thi do đích thân hoàng đế ra đề, ông xếp hàng thứ hai trong danh sách những bài thi giỏi nhất, được đặc cách đỗ Cử nhân và trao chức quan Nội các Trung thư hành tẩu. Từ đó bắt đầu con đường làm quan của Tiền Đại Hân. Mùa xuân năm Càn Long thứ 17 (1752), Tiền Đại Hân đến Bắc Kinh, lúc đầu được bố trí làm việc tại Nội các Phiếu kiểm phòng, cứ ba ngày đến làm việc 1 lần, 10 ngày trực 1 đêm, học làm quan ở kinh thành. Thế nhưng việc thi Tiến sĩ vẫn không thuận lợi.[4]

Năm Càn Long thứ 20 (1755), Tiền Đại Hân đỗ Tiến sĩ, rồi lại trải qua một kỳ điện thí ở điện Bảo Hòa, được tuyển vào Hàn lâm, trở thành Hàn lâm viện Thứ cát sĩ.[5] Lúc đó, Tiền Đại Hân dồn hết những điều mình tâm đắc khi nghiên cứu lịch toán và viết thành cuốn sách Tam thống lịch thuật gồm 4 quyển; ông lại được học giả tiền bối Tần Huệ Điền mời tham gia vào làm cuốn Ngũ lễ thông khảo. Năm Càn Long thứ 27 (1762), Càn Long đến Nhiệt Hà săn bắn, Tiền Đại Hân phụng mệnh tùy giá đi thăm các di tích, lại nhận lệnh cùng với Kỷ Vân biên soạn sách Nhiệt Hà chí. Năm Càn Long thứ 28 (1763), ông lại đi theo hoàng đế tuần du ở Ngũ Đài Sơn, trên đường đi phụng mệnh làm thơ họa với hoàng đế. Dù thơ văn của Tiền Đại Hân dâng lên được hoàng đế ban thưởng nhưng ông luôn giữ mình rất cẩn thận có lẽ là do sợ mắc họa "văn tự ngục". Trải qua một thời gian ở cung đình, cuối cùng Tiền Đại Hân quyết định rời bỏ chốn quan trường trở về quê nhà sinh sống.[6]

Từ năm Càn Long thứ 16 đến năm Càn Long thứ 32 (1751–1767), quan lộ của Tiền Đại Hân ở Hàn lâm viện rất hanh thông, làm Thứ cát sĩ 3 năm, thăng Soạn tu; làm Soạn tu 3 năm, thăng Thị độc, làm Thị độc 3 năm, thăng Thị giảng học sĩ, trở thành cận thần bên cạnh hoàng đế. Ngay cả cha mẹ của Tiền Đại Hân cũng được hoàng đế phong hiệu. Trong thời gian đó, thành tích chính của Tiền Đại Hân chủ yếu là trên phương diện học chính, ông phụng mệnh nhà vua lần lượt đi đến Sơn Đông, Hồ Nam, Chiết Giang đảm nhiệm các chức quan Chánh, Phó chủ khảo của kỳ thi Hương, tuyển chọn được tương đối nhiều nhân tài. Tiếp đó là trên phương diện biên soạn sách. Ngoài tác phẩm Nhiệt Hà chí 80 quyển đã kể ở trên, còn làm chức Soạn tu quan, tham gia biên soạn các phần Điền phú, Hộ khẩu, Ngũ lễ trong bộ sách Tục Văn hiến thông khảo; lại tham gia biên hiệu sách Âm vận thuật vi theo lời mời của Tần Huệ Điền. Việc tham gia biên soạn những cuốn sách đó đã góp phần nâng cao học thức và tài năng của Tiền Đại Hân.[7]

Tiền Đại Hân không chỉ nghiên cứu toán thuật, ngũ lễ mà còn rất hứng thú nghiên cứu sử học, ông thường xuyên đến hiệu sách ở Xưởng lưu Ly để mua những bản khắc đá các thời Hán, Đường, Tống, Nguyên, sớm tối hiệu khám, để so sánh với sử liệu, viết thành bản thảo. Sau một thời gian dài miệt mài làm việc, tích lũy, ông đã trở thành một nhà sưu tầm và chuyên gia khảo chứng văn khắc.[8] Cùng lúc đó, ông vừa bị bệnh thương hàn lại thêm người thân đều lần lượt qua đời, bèn quyết định từ quan về quê tịnh dưỡng. Sau khi được sự phê chuẩn của triều đình, ông trở về Gia Định bèn bỏ tiền mua nhà rồi đặt tên cho ngôi nhà này là Tiềm Nghiên Đường, sau đó ẩn cư chuyên tâm nghiên cứu học vấn. Thế nhưng ông chỉ ở nơi này được một năm rồi lại đến Bắc Kinh. Năm Càn Long thứ 35 (1770), đúng vào dịp tổ chức lễ đại thọ 60 tuổi của Càn Long đế, trên cương vị là một Hàn lâm học sĩ, ông vào triều chúc thọ hoàng đế với bài Vạn thọ tụng, được chép vào quyển 1 cuốn Tiềm Nghiên Đường văn tập, Tuy vậy, ông không hề cảm thấy hứng thú với loại văn hoa mỹ, chỉ có chữ mà không nói được điều gì ấy. Thay vào đó ông tập trung vào nghiên cứu văn tự học như đọc Thuyết văn giải tự và tập viết thư pháp chữ Triện và chữ Lệ. Lần trở lại Bắc Kinh này, Tiền Đại Hân càng được hưởng nhiều ân sủng của hoàng đế, ông được giao đảm nhận chức Soạn tu quan trong ban biên soạn Đại Thanh nhất thống chí, lại nhận chức Thông quán Soạn tu quan. Với những công việc đó, ông đều tận tâm dốc sức hoàn thành.[9]

Tháng giêng năm Càn Long thứ 38 (1773), Tiền Đại Hân phụng chỉ vào Thượng Thư phòng, làm thầy dạy cho Hoàng tử thứ 12. Thượng Thư phòng là nơi các hoàng tử học tập, vì vậy Hoàng tử thứ tư, Hoàng tử thứ sáu đều đã từng tặng ông thơ và câu đối. Quan hệ của Tiền Đại Hân với các hoàng tử rất thân thiết và hòa hợp. Tháng 11 năm đó, ông lại được thăng chức làm chủ quản Thái tử sự vụ ở Chiêm sự Phủ Thiếu chiêm sự, đây là chức quan cao nhất của Tiền Đại Hân, vì vậy ông còn được mọi người gọi tên là Tiền Thiếu chiêm. Trong những năm đó, Tiền Đại Hân lại đến Hà Nam làm quan Chủ khảo kỳ thi Hương. Tiếp đó lại đến Quảng Đông làm Đề đốc Quảng Đông Học chính.[c][10] Sau khi đến Quảng Đông, Tiền Đại Hân đã thực hiện chế độ thi cử rất nghiêm ngặt, đích thân ra đề và duyệt bài thi, đề xướng việc học thông kinh điển. Một thời gian sau, phong trào học ở Quảng Đông có sự thay đổi rõ rệt. Mặc dù con đường làm quan của Tiền Đại Hân rất thuận lợi nhưng ông không có hứng thú với quan trường, luôn tìm cách né tránh.[11]

Những năm cuối đời

[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Càn Long thứ 40 (1775), lúc đang nhậm chức ở Quảng Đông Học chính thì được tin phụ thân ở quê nhà mất do lâm bệnh nặng, ông lập tức trở về quê. Từ đó, ông ở nhà chịu tang, không quay lại chốn quan trường nữa, yên tâm phụng sự mẹ già, đọc sách nghiên cứu học thuật. Sau khi từ quan về quê nhà sinh sống, Tiền Đại Hân được các trường học ở trong vùng đua nhau mời về làm viện trưởng. Ngoài thời gian dạy học, ông còn chú tâm vào việc biên soạn cuốn sách Nhị thập nhị sử khảo dị. Cuốn sách được hoàn thành vào năm Càn Long thứ 47 (1782), trong thời gian ông chịu tang mẹ, dài 100 quyển.

Từ năm Càn Long thứ 18 đến năm Càn Long thứ 56 (1753–1791), trải qua 38 năm thu thập tài liệu, Tiền Đại Hân đã hoàn thành được 2 cuốn sách Nguyên thị tộc biểu 4 quyển và Bổ Nguyên sử nghệ văn chí 4 quyển. Trong 16 năm dạy học ở Sài Dương thư viện, ông có gần 2.000 học trò, để lại ảnh hưởng rất lớn. Năm Gia Khánh thứ 9 (1804), Tiền Đại Hân qua đời, hưởng thọ 77 tuổi. bạn thân của ông là Vương Sưởng viết văn bia mộ chí, hoàng đế hạ lệnh mang bài vị của ông để vào trong Hương hiền từ và ghi lại công danh sự tích của ông vào sách Nho lâm liệt truyện.[12]

Nghiên cứu

[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền Đại Hân có nhiều phát kiến độc đáo về âm vận học[d]huấn hỗ học[e]. Trước hết, ông chú ý đến nghiên cứu về cổ thanh mẫu (phụ âm đầu cổ), chứng minh rằng thời cổ đại không có sự phân biệt giữa khinh thần âm (âm môi răng/nhẹ môi) và thiệt thượng âm (âm tắc cuộn lưỡi). Ông khảo cứu và chứng minh rằng, thời thượng cổ không có khinh thần âm (âm môi răng), ví dụ chữ "無" (vô) được phát âm thành "模" (mô), sau đó chuyển thành "毛" (mao). Cổ âm của chữ "毛" là "謀" (mưu), vì thế chữ "模" có thể chuyển thành "毛".

Tiền Đại Hân đã biên soạn cuốn Chấp nhị sử khảo dị gồm một trăm quyển. Ông sử dụng phương pháp khảo cứu lịch sử của Cố Viêm Vũ, bổ sung những thiếu sót và sửa chữa những sai lầm, được đương thời đánh giá rất cao. Tác phẩm này cùng với Chấp nhị sử trát ký của Triệu DựcThập thất sử thương khuyết của Vương Minh Thịnh được gọi là "tam đại khảo sử". Ông cũng viết những bài văn như "Dịch dụ" (Ví von chuyện cờ), trong đó ông đã lĩnh ngộ một số đạo lý khi chơi cờ: "Người học ngày nay, khi đọc sách của người xưa, thường chỉ trích những sai lầm của người xưa; khi sống với người đương thời, cũng thích nói về lỗi lầm của người khác. Con người vốn dĩ không thể không có lỗi lầm, nhưng hãy thử đặt mình vào vị trí của họ, với tấm lòng bình tĩnh mà xét đoán, liệu ta có thật sự không có một lỗi lầm nào không? Ta có thể biết được lỗi lầm của người khác, nhưng lại không thấy được lỗi lầm của chính mình; ta có thể biết được những lỗi lầm nhỏ của người khác, nhưng lại không thấy được những lỗi lầm lớn của mình".

Tiền Đại Hân coi thường toán học phương Tây. Khi Giang Vĩnh học toán học phương Tây, Tiền Đại Hân đã cười nhạo là "bị người Tây dùng". Tiền Đại Hân nói rằng Kinh Thi đã có phương pháp "phiên thiết"[f], và bác bỏ ý kiến cho rằng phương pháp phiên thiết chịu ảnh hưởng của kinh Phật, ông lập luận: "Lẽ nào trí tuệ của các thánh hiền thời xưa lại kém hơn các nhà sư Phật giáo ư?", "Từ đó ta biết rằng đạo lý trong Lục Kinh đã chuẩn bị đầy đủ mọi thứ, dù là lớn hay nhỏ, trí tuệ lặt vặt của hậu nhân sớm đã không vượt ra khỏi phạm vi của thánh hiền". Thái độ của Tiền Đại Hân đối với học thuật phương Tây là: "Thuật[g] của người Tây dĩ nhiên có chỗ vượt trội so với phương pháp của Trung Quốc, học thuật của họ thì được, nhưng học thuật của họ mà bị họ ngu muội, lừa gạt thì không được".

Trước tác

[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền Đại Hân là một học giả lớn của Trung Quốc thời Thanh. Lĩnh vực nghiên cứu và cống hiến của ông rất rộng lớn bao gồm: kinh học, tiểu học, huấn hỗ, âm vận, kim thạch, địa lý, lịch toán, thiên văn v.v... Trước tác của ông được in ấn lúc ông còn sống bao gồm: Nhị thập nhị sử khảo dị, Kim thạch văn bạt vĩ,[10] Thập giá trai dưỡng tân lục[13] Tam thống thuật diễnNguyên sử nghệ văn chí.[10] Sau khi ông mất, hậu nhân và các học trò của ông lại tiếp tục ấn hành các cuốn sách như: Tiềm Nghiên Đường văn tập,[14] Tiềm Nghiên Đường thi tập, Nguyên thị tộc biểu, Kim thạch văn tự mục lục, Tứ sử sóc quốc khảo, Đề niên lục v.v...

Đóng góp lớn nhất của Tiền Đại Hân chính là trong lĩnh vực khảo sử qua tác phẩm sử học đồ sộ nổi tiếng của ông là Nhị thập nhị sử khảo dị. Công việc viết Khảo dị có thể nói là bắt đầu từ khi Tiền Đại Hân còn rất trẻ. Đến năm 1782, khi ông 55 tuổi mới viết xong bộ sách gồm 100 quyển này. Từ đó về sau, ông vẫn không ngừng hiệu khán, mãi cho đến khi ông 70 tuổi mới hoàn thành toàn bộ công trình này. Thời gian viết và sửa chữa cuốn sách kéo dài đến 50 năm. Có thể nói, bộ sách này là kết tinh toàn bộ cuộc đời nghiên cứu sử học của Tiền Đại Hân. Phạm khi khảo chính của Nhị thập nhị sử khảo dị là 22 bộ sử, từ Sử ký cho đến Nguyên sử. Thế nhưng, xem mục lục của Nhị thập nhị sử khảo dị thì lại có 23 bộ sử, đó là do sự hợp nhất của hai bộ Tục Hán thư (Ban Bưu soạn) và Hậu Hán thư (Phạm Diệp soạn). Là một bộ khảo sử nổi tiếng, đóng góp của Tiền Đại Hân qua Nhị thập nhị sử khảo dị thể hiện trên rất nhiều mặt, từ tên người, sự kiện, quan chức, chế độ cho đến tự dạng trong các bộ sách sử đều được ông đề cập đến và đưa ra những kiến giải tương đối rõ ràng, giúp cho các học giả đời sau giải trừ được không ít nghi ngờ khi đọc sách sử của người xưa.

Gia đình

[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền Đại Hân kết hôn với Vương thị, con gái của Vương Nhĩ Đạt và là em gái của Vương Minh Thịnh, về sau theo chồng đến sống ở kinh thành được 15 thì bị bệnh mất ở Bắc Kinh.

Hậu duệ

[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà ngoại giao Tiền Kỳ Tham, cựu Bộ trưởng Ngoại giao và Phó Thủ tướng Trung Quốc, là hậu duệ của Tiền Đại Hân.[15]

Chú thích

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. Nay thuộc thành phố Thượng Hải.
  2. Đây là ngành học chuyên nghiên cứu về văn tự, âm vận và huấn hỗ.
  3. Đây là chức quan quan trọng quản lý công việc giáo dục của một tỉnh, phải là quan tứ phẩm trở lên mới được đảm nhiệm, ngang hàng với Tổng đốc và Tuần phủ.
  4. Ngành học nghiên cứu về âm thanh tiếng Hán cổ.
  5. Ngành học nghiên cứu về ý nghĩa và chú giải từ ngữ cổ.
  6. Phiên thiết là phương pháp ghi âm cổ chữ Hán.
  7. Thuật ở đây để chỉ khoa học kỹ thuật.

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]

Trích dẫn

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. Theobald, Ulrich. "Qian Daxin 錢大昕". Chinaknowledge.de (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2018.
  2. "钱大昕简介生平" [Tiểu sử và cuộc đời của Tiền Đại Hân]. Gushiwen.org. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2018.
  3. Nguyễn Thanh Hà 2009, tr. 109.
  4. Nguyễn Thanh Hà 2009, tr. 110.
  5. Rowe, William T. (ngày 15 tháng 10 năm 2009). China's Last Empire: The Great Qing (bằng tiếng Anh). Harvard University Press. tr. 82, 87. ISBN 9780674036123.
  6. Nguyễn Thanh Hà 2009, tr. 111.
  7. Nguyễn Thanh Hà 2009, tr. 112.
  8. Elman, Benjamin A. (2001). From philosophy to philology: intellectual and social aspects of change in late Imperial China (ấn bản thứ 2). Los Angeles: UCLA Asian Pacific Monograph Series. ISBN 1883191041. OCLC 47893503.
  9. Nguyễn Thanh Hà 2009, tr. 113.
  10. 1 2 3 "Qian Daxin - Famous Versatile Scholar of the Qing Dynasty". Culture China. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2025.
  11. Nguyễn Thanh Hà 2009, tr. 114.
  12. Nguyễn Thanh Hà 2009, tr. 115.
  13. Lệ vân thư ốc vấn học ký, Tam Liên thư điếm, 1982, tr. 159.
  14. Qian Daxin and Lü Youren (呂友仁). (1989) reprint.A Collection of Qian Yan Tang. Shanghai : Shanghai gu ji chu ban she. ISBN 7-532-50098-5.
  15. "上海嘉定走出的外交家钱其琛" [Nhà ngoại giao Tiền Kỳ Tham xuất thân từ Gia Định, Thượng Hải]. The Paper (bằng tiếng Trung). ngày 10 tháng 5 năm 2017.

Thư mục

[sửa | sửa mã nguồn]
Tiếng Trung
Tiếng Việt
  • Nguyễn Thanh Hà (2009), 10 nhà sử học nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc. Hà Nội: Nxb. Văn hóa Thông tin.
Tiếng Anh