Tonya Harding

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Tonya Harding
Tonya harding mac club 1994 by andrew parodi.jpeg
Harding tại Portland, Oregon, sau Thế vận hội Mùa đông 1994
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Tonya Maxene Price
Đại diện cho quốc gia Hoa Kỳ
Sinh Tonya Maxene Harding
12 tháng 11, 1970 (48 tuổi)
Portland, Oregon, Hoa Kỳ
Cao 5 foot 1 inch (1,55 m)
Huấn luyện viên Diane Rawlinson (1973–1994)[1]
Dody Teachman (1991–92)[2]

Tonya Maxene Price (họ gốc Harding; sinh ngày 12 tháng 11 năm 1970)[3] là một cựu vận động viên trượt băng nghệ thuật người Mỹ.

Sinh ra tại Portland, Oregon, Harding được nuôi nấng chủ yếu do mẹ cô, người đã ghi danh cho cô vào những lớp học trượt băng bắt đầu từ khi bốn tuổi. Harding dành phần lớn thời gian thơ ấu của mình cho tập luyện, cuối cùng cô đã bỏ học trung học để dành thời gian cho môn thể thao này. Sau khi leo dần dần trong Giải vô địch trượt băng Hoa Kỳ từ năm 1986 đến năm 1989, Harding đã giành chức vô địch cuộc thi Skate America 1989. Cô là nhà vô địch Mỹ năm 1991 và 1994 trước khi bị tước đoạt chức vô địch năm 1994, và huy chương bạc Thế giới năm 1991. Năm 1991, cô giành được sự phân biệt là người phụ nữ Mỹ đầu tiên thực hiện thành công một cú lộn 3 vòng khi thi đấu, và là người phụ nữ thứ hai làm như vậy trong lịch sử (sau Midori Ito). Cô cũng là nhà vô địch Olympic hai lần và nhà vô địch trượt băng Mỹ hai lần.[4]

Vào tháng 1 năm 1994, Harding đã bị cuốn vào một scandal khi chồng cũ của cô, Jeff Gillooly, đã dàn dựng một cuộc tấn công vào Nancy Kerrigan, người đồng đội của cô trong đội tuyển Olympic Hoa Kỳ. Sau khi Thế vận hội Mùa đông 1994 kết thúc, Harding cuối cùng đã nhận tội có liên quan đến việc cản trở việc truy tố và bị Hiệp hội trượt băng Hoa Kỳ cấm thi đấu suốt đời.[5] Việc điều tra tội phạm và lệnh cấm thi đấu vĩnh viễn đối với Harding là chủ đề của sự theo dõi chặt chẽ của giới truyền thông và nó đã được coi là một trong những vụ bê bối lớn nhất trong lịch sử thể thao Hoa Kỳ.[6]

Vào cuối những năm 1990, Harding trở thành một vận động viên quyền Anh chuyên nghiệp, và cuộc đời của cô là chủ đề của nhiều bộ phim, sách, và các nghiên cứu học thuật. Năm 2017, một phim chuyển thể về tiểu sử của cô I, Tonya, đã được thực hiện và đoạt giải Oscar.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Hersh, Phil (ngày 25 tháng 1 năm 1994). “Harding, Longtime Coach Different As A Team Can Possibly Be”. Chicago Tribune. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2018. 
  2. ^ Rakowski, Cat; Valiente, Alexa (ngày 11 tháng 1 năm 2018). “Tonya Harding on her continued love for figure skating and what her life is like today”. ABC News. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2018. 
  3. ^ Brownstone & Franck 1995.
  4. ^ Janofsky, Michael (ngày 12 tháng 3 năm 1991). “A Triple Axel With Rippling Effects”. The New York Times. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2017. 
  5. ^ Marshall, Sarah (tháng 1 năm 2014). “Remote Control: Tonya Harding, Nancy Kerrigan, and the Spectacles of Female Power and Pain”. The Believer. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2017. 
  6. ^ Piepenburg, Erik (ngày 12 tháng 6 năm 2017). “Tonya Harding, Tragic Muse? More Works Explore a Skating Scandal”. The New York Times. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2018. 

Sách tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]