Tottenham Hotspur F.C.

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Tottenham Hotspur)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Tottenham Hotspur
Biểu tượng Tottenham Hotspur F.C.
Tên đầy đủTottenham Hotspur Football Club
Biệt danhSpurs, Lilywhites, Yids
Thành lập5 tháng 9, 1882; 136 năm trước với tên Hotspur F.C.
Sân vận độngTottenham Hotspur Stadium
Sức chứa
sân vận động
62.062
Chủ sở hữuENIC International Ltd. (85,55%)
Chủ tịch điều hànhAnh Daniel Levy
Huấn luyện viênArgentina Mauricio Pochettino
Giải đấuGiải bóng đá Ngoại hạng Anh
2018–19Giải bóng đá Ngoại hạng Anh, 4 trên 20
Trang webTrang web của câu lạc bộ
Sân khách
Khác
Mùa giải hiện nay

Câu lạc bộ bóng đá Tottenham Hotspur (tiếng Anh: Tottenham Hotspur Football Club) là một câu lạc bộ bóng đáLuân Đôn, thủ đô Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland. Câu lạc bộ còn có các tên gọi khác như Spurs, The Spurs, Tottenham hay Lilywhites. Sân nhà của câu lạc bộ là sân vận động White Hart Lane, nhưng mới đây đã được chuyển sang Sân vận động Tottenham Hotspur.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ được thành lập năm 1882 với tên gọi Hotspur Football Club. Cái tên này có liên quan với tên của Sir Henry Percy (Sir Harry Hotspur). Tuy nhiên, để tránh sự nhầm lẫn với một câu lạc bộ khác (London Hotspur), câu lạc bộ đổi tên thành Tottenham Hotspur như hiện nay.

Tottenham Hotspur chuyển sang chuyên nghiệp cuối năm 1895. Năm 1899, Spurs chuyển đến địa điểm mới, nay chính là nơi đặt sân vận động White Hart Lane. Tháng 4 năm 1901, Tottenham vô địch cúp FA sau khi thắng Sheffield United (lượt đi: 2-2; lượt về: 3-1) và trở thành đội bóng đầu tiên không chơi tại giải vô địch quốc gia đoạt được cúp này.

Mùa giải 1909-10, Tottenham giành quyền lên hạng nhất nhưng không giành bất cứ danh hiệu nào cho đến năm 1920, năm họ đoạt chức vô địch giải hạng 2. Việc câu lạc bộ phải xuống hạng 2 mùa giải đó được cho là do sự bịp bợm khi Arsenal thay thế vị trí Tottenham mặc dù Arsenal chỉ đứng thứ 6 giải hạng 2 mùa giải trước.

Ngày 23 tháng 4, Tottenham giành cúp FA lần thứ 2 sau khi đánh bại Wolverhampton Wanderers 1-0 tại sân vận động Stamford Bridge. Tuy nhiên, sau chiến thắng này, Tottenham phải trải qua một giai đoạn xuống dốc rồi phải chơi ở giải hạng 2 từ năm 1928 đến năm 1950.

Năm 1951, Tottenham trở thành câu lạc bộ đầu tiên vô địch 2 hạng đấu trong 2 năm liên tiếp (giải hạng 2: 1950; giải hạng nhất: 1951). Các cầu thủ nổi tiếng thời gian này là Alf Ramsey, Ronnie Burgess, Len Duquemin, Sonny WaltersBill Nicholson.

Năm 1958, Bill Nicholson trở thành quản lý mới và mở ra một thời kỳ huy hoàng cho câu lạc bộ. Các năm sau đó, Tottenham liên tục gặt hái nhiều danh hiệu. Đầu tiên là cú đúp vô địch Anhcúp FA năm 1961. Năm sau tiếp tục đoạt cúp FA và vào bán kết cúp C1. Và giành cúp C2 năm 1963. Các cầu thủ nổi tiếng khi đó là Danny Blanchflower, John White, David Mackay, Cliff JonesJimmy Greaves.

Bill Nicholson một lần đoạt cúp FA năm 1967 với nhiều cầu thủ mới như Alan Gilzean, Mike England, Alan Mullery, Terry Venables, Joe Kinnear và Cyril Knowles. Mặc dù đoạt thêm 1 cúp UEFA năm 1972, 2 cúp Liên đoàn các năm 19711973 và lọt vào trận chung kết cúp UEFA năm 1974, nhưng Nicholson phải từ chức vì thành tích khởi đầu kém cỏi của mùa giải 1974-75.

Những năm đầu thập niên 1980, dưới sự dẫn dắt của Keith Burkinshaw, Tottenham giành chiếc cúp FA thứ 6 (1981) và 7 (1982) cùng với chiếc cúp UEFA thứ 2 (1984). Các cầu thủ quan trọng gồm Steve Archibald, Garth Crooks, Glenn Hoddle, Osvaldo ArdilesSteve Perryman. Trong đó Steve Perryman đã chơi cho Spurs 655 ở giải vô địch trong 7 mùa bóng.

Từ đó đến cuối thế kỷ XX, Tottenham mới giành thêm 2 danh hiệu lớn gồm 1 cúp FA (1991) và 1 cúp Liên đoàn (1999). Các cầu thủ nổi tiếng đã chơi cho câu lạc bộ trong khoảng thời gian này có Paul Gascoigne, Gary Lineker, Jürgen Klinsmann, Gheorghe Popescu, Ilie Dumitrescu, Teddy Sheringham, Nick BarmbyDarren Anderton.

Sân vận động[sửa | sửa mã nguồn]

Tottenham Hotspur đã từng có sân vận động tên White Hart Lane ở đường Bill Nicholson, 748 High Road, Tottenham, Luân Đôn với sức chứa 36,310 nhưng nó bị phá hủy và họ phải mượn sân Wembley để làm sân nhà. Hiện nay câu lạc bộ đã khánh thành sân mới mang tên Tottenham Hotspur Stadium với sức chứa hơn 60,000 chỗ ngồi vì sân White Hart Lane nhỏ hơn so với đại kình địch cùng thành phố Arsenal. Sau nhiều lần trì hoãn, dự kiến Tottenham sẽ có trận đấu đầu tiên trên sân mới đối đầu với MU vào tháng 1/2019 trong khuôn khổ Premier League. Tuy nhiên do một số vấn đề về an ninh nên phải trì hoãn tiếp, cuối cùng thì Tottenham đã có trận đấu đầu tiên trên sân mới đối đầu với Crystal Palace vào tháng 4/2019 trong khuôn khổ giải Ngoại hạng Anh

Màu sắc và biểu tượng[sửa | sửa mã nguồn]

Màu áo truyền thống[sửa | sửa mã nguồn]

Áo của Tottenham Hostpur có màu lúc đầu là xanh hải quân. Nhưng sau đó 1 mùa giải đội không có 1 màu cụ thể. Năm 1884, câu lạc bộ đã thay đổi một bộ "đóng quân" tương tự như phong cách của Blackburn Rovers. Ngay sau khi chuyển Northumberland Road, câu lạc bộ thay đổi một lần nữa để áo sơ mi đỏ và quần short màu xanh. 5 năm sau, sau khi trở thành một câu lạc bộ chuyên nghiệp, họ chuyển sang một sô-cô-la và bộ sọc vàng.Vào cuối thế kỷ XIX câu lạc bộ chuyển màu áo một lần nữa, áo sơ mi trắng và quần short màu xanh nổi tiếng của họ, do đó có biệt danh "Lilywhites".

Nhà sản xuất áo[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà tài trợ trên áo[sửa | sửa mã nguồn]

1 Aurasma là một công ty con của HP Autonomy
2 Hewlett-Packard là công ty mẹ của HP Autonomy

Danh sách cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến 27 tháng 3 năm 2016[7]

Đội hình hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến 17 tháng 7 năm 2019[8]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số áo Vị trí Cầu thủ
1 Pháp TM Hugo Lloris (Đội trưởng)[9]
3 Anh HV Danny Rose
4 Bỉ HV Toby Alderweireld
5 Bỉ HV Jan Vertonghen
6 Colombia HV Davinson Sánchez
7 Hàn Quốc Son Heung-min
8 Anh TV Harry Winks
9 Hà Lan Vincent Janssen
10 Anh Harry Kane (Đội phó)
11 Argentina TV Erik Lamela
12 Kenya TV Victor Wanyama
14 Pháp Georges-Kévin Nkoudou
15 Anh TV Eric Dier
Số áo Vị trí Cầu thủ
16 Anh HV Kyle Walker-Peters
17 Pháp TV Moussa Sissoko
20 Anh TV Dele Alli
21 Argentina HV Juan Foyth
22 Argentina TM Paulo Gazzaniga
23 Đan Mạch TV Christian Eriksen
24 Bờ Biển Ngà HV Serge Aurier
25 Anh TV Josh Onomah
27 Brasil TV Lucas Moura
33 Wales HV Ben Davies
38 Hoa Kỳ HV Cameron Carter-Vickers
Pháp TV Tanguy Ndombele

Cầu thủ đang cho mượn[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số áo Vị trí Cầu thủ
–– Anh Jack Clarke (tại Leeds United đến 30 tháng 6 năm 2020)[10]

Ban huấn luyện[sửa | sửa mã nguồn]

Chức vụ Tên
Huấn luyện viên trưởng Argentina Mauricio Pochettino
Trợ lý huấn luyện viên Tây Ban Nha Jesús Pérez
Huấn luyện viên đội 1 Argentina Miguel D'Agostino
Huấn luyện viên thể lực Anh Nathan Gardiner
Huấn luyện viên thủ môn Tây Ban Nha Toni Jiménez
Khoa học thể thao, thể lực và điều trị Anh Nathan Gardiner[11]
Điều phối viên kỹ thuật quốc tế Đức Steffen Freund[12]
Tuyển dụng và phân tích Anh Steve Hitchen[13]

Các huấn luyện viên trong lịch sử đội bóng[sửa | sửa mã nguồn]

Top 20 huấn luyện viên xuất sắc nhất trong lịch sử đội bóng[sửa | sửa mã nguồn]

huấn luyện viên Năm Số trận trận thắng % Thắng
1 Anh Frank Brettell 1898 - 1899 63 37 58.73
2 Anh Arthur Turner 1942 - 1946 49 27 55.10
3 Anh John Cameron 1899 - 1907 570 296 51.93
4 Anh David Pleat 1 1986 - 1987 119 60 50.42
5 Anh Bill Nicholson 1958 - 1974 832 408 49.03
6 Anh Arthur Rowe 1949 - 1955 283 135 47.70
7 Anh Harry Redknapp 2008 - Present 42 20 47.62
8 Anh Fred Kirkham 1907 - 1908 61 29 47.54
9 Anh Jimmy Anderson 2 1955 - 1958 161 75 46.58
10 Anh Percy Smith 1929 - 1935 253 109 46.38
11 Anh Doug Livermore
Anh Ray Clemence
1992 - 1993 51 23 45.09
12 Hà Lan Martin Jol 3 2004 - 2007 150 67 44.67
13 Anh Peter Shreeves 1984 - 1986 & 1991 - 1992 177 79 44.63
14 Anh Jack Tresadern 1935 - 1938 146 65 44.52
15 Scotland Peter McWilliam 1913 - 1927 & 1938 - 1942 750 331 44.13
16 Anh 'The Directors' 1908 - 1913 231 99 42.86
17 Anh Joe Hulme 1946 - 1949 150 64 42.67
18 Anh Keith Burkinshaw 1976 - 1984 431 182 42.23
19 Anh Terry Venables 1987 - 1991 165 67 40.61
20 Anh Billy Minter 1927 - 1929 124 49 39.52

Các cựu cầu thủ nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Các cầu thủ xuất sắc nhất năm[sửa | sửa mã nguồn]

Thành tích[sửa | sửa mã nguồn]

(* đồng đoạt cúp)

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Sponsorship and 2010/2011 Kit Update”. tottenhamhotspur.com. Tottenham Hotspur. Ngày 8 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2013. 
  2. ^ “Historical Kits – Tottenham Hotspur”. historicalkits.co.uk. Historic Football Kits. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2013. 
  3. ^ “Sponsorship Tottenham Hotspur”. investec.co.uk. Investec. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2013. 
  4. ^ “Tottenham Hotspur announces new shirt sponsorship with Investec”. tottenhamhotspur.com. Tottenham Hotspur. Ngày 16 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2013. 
  5. ^ “Club Announce HP as Principal Partner”. tottenhamhotspur.com. Tottenham Hotspur. Ngày 8 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2013. 
  6. ^ “Tottenham Hotspur announces AIA as Cup Shirt Partner”. tottenhamhotspur.com. Tottenham Hotspur. Ngày 15 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2013. 
  7. ^ “First team profiles”. Tottenham Hotspur F.C. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2015. 
  8. ^ “First team: Players”. Tottenham Hotspur F.C. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2018. 
  9. ^ “First team: Hugo Lloris”. Tottenham Hotspur F.C. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2018. 
  10. ^ “Clarke Move Agreed”. Tottenham Hotspur. 2 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2019. 
  11. ^ Gold, Alasdair (12 tháng 9 năm 2017). “Behind the scenes of Spurs' training session – banter, hard work and laughs”. football.London. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2018. 
  12. ^ “Steffen Freund”. Tottenham Hotspur Football Club. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2018. 
  13. ^ Cannon, Rhod (9 tháng 2 năm 2017). “Who is Tottenham Hotspur's new chief scout, Steve Hitchen?”. International Business Times. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2018. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]