Trương Minh Ký

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Trương Minh Ký (張明記, 1855-1900), tự Thế Tải, hiệu Mai Nham, là nhà giáo, nhà báo, nhà văn hóa Việt Nam. Cũng như thầy mình là Trương Vĩnh Ký, ông có nhiều đóng góp quan trọng trong việc phát triển nền văn học Quốc ngữ Việt Nam.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Theo "Trương gia từ đường thế phả toàn tập" thì nguyên tổ của Trương Minh Ký "Trương Đạt, tự Văn phòng. Ông nguyên quán tỉnh Quảng Bình, phủ Quảng Ninh, huyện Khang Lộc (nay là Phong Lộc) tổng Hoàng Phổ, xã Trường Dục, thiên cư vào tỉnh Bình Định, phủ Quy Nhơn (nay là An Nhơn) huyện Tuy Viễn, tổng Thời Hòa (nay là Mỹ Thuận) thôn Nhơn Thuận (xưa là An Mỹ) lấy nghề nông làm nghiệp"[1].

Cũng theo "Trương gia từ đường thế phả toàn tập" thì đệ nhất tổ của Trương Minh Ký là ông Trương MInh Kiều. Tuy gia tộc lập nghiệp tại Bình Định, nhưng "ông tổ đời một (1725-1778) tức người đầu tiên, đầu xuân Mậu Dần, vào khai canh tại Hanh Thông xã, thuộc Gò Vấp nay."[2]. Danh tướng Trương Minh Giảng là hậu duệ đời thứ ba của dòng họ này, còn Trương Minh Ký là đời thứ 5.

Ông nguyên tên là Trương Minh Ngôn (張明言), sinh nhằm giờ Thìn ngày 13 tháng 9 năm Ất Mão dưới thời Tự Đức (tức ngày 23 tháng 10 năm 1855), tại làng Hanh Thông, thuộc Bình Trị Hạ, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định (nay thuộc quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh). Song thân ông là ông Trương Minh Cẩn và bà Phạm Thị Nguyệt.

Sự nghiệp giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Thân mẫu mất sớm khi ông mới lên 7 tuổi, nhưng bù lại ông được cha chăm lo giáo dục chu đáo. Từ nhỏ, ông được cha gửi đi học chữ Nho tại trường đạo của Trương Vĩnh Ký. Sau khi học xong Ngũ kinh ông chuyển sang học tiếng Pháp. Do có năng khiếu cùng với sự chuyên cần, ông sớm trở thành một trong những học trò giỏi nhất của trường nên rất được thầy Sĩ Tải quý mến. Và do cảm mến tài đức của thầy nên ông đã thêm chữ Kỷ () vào sau tên Ngôn (), đổi tên thành Trương Minh Ký.

Năm 19 tuổi, ông lấy bằng Tài năng thượng hạng (Brevet supérieur des instituteurs) tại Trường Khải Tường (sau được gọi là Trường Chasseloup Laubat). Sau khi tốt nghiệp, do thông Hán văn và giỏi Pháp văn, ông được thầy giữ lại để dạy chữ Nho và chữ Tây cho học sinh lớp sau. Ông cũng được Trương Vĩnh Ký giới thiệu làm thông ngôn cho các quan chức thuộc địa Pháp, đồng thời làm giáo viên của Trường Thông ngôn (Collège des interprètes), Trường Sĩ Hoạn (Collège des administrateurs stagiaires).

Năm 1879, "Trương Minh Ký nguyên làm thầy giáo giúp hạng ba, lên hạng nhì, đồng niên năm 1400 quan tiền"[3]. Với vốn kiến thức rộng, tinh thông nhiều ngôn ngữ, đầu năm 1880, ông được Thống đốc Nam Kỳ Charles Le Myre de Vilers giao nhiệm vụ đưa 10 học sinh Trường Bổn quốc, trong đó có Nguyễn Trọng Quản, Diệp Văn Cương sang du học bậc Cao đẳng ở Alger.

Sự nghiệp dang dở[sửa | sửa mã nguồn]

Tờ Gia Định báo.

Bên cạnh việc dạy học, ông còn cộng tác với Trương Vĩnh Ký trên tờ Gia Định báo, Thông Loại Khóa Trình cũng như viết sách dạy Pháp văn. Ông có cách hành văn rất bình dân, mộc mạc như Trương Vĩnh Ký và Huỳnh Tịnh Của, chuyên dịch chữ Hán ra quốc ngữ và sử dụng văn vần nhiều hơn văn xuôi.

Năm 1889, ông được cử làm thông ngôn cho phái đoàn triều đình Huế đi sứ sang Pháp tham dự Hội Đấu xảo tại Paris. Trong chuyến đi này, ngày 3 tháng 7 năm 1889, ông được Huỳnh Quốc công Miên Triệu đặt cho biệt hiệu Thế Tải (世載). Khi về nước, ông được triều đình Thành Thái ân thưởng Kim khánh trung hạng cùng với cặp cống sa màu lục và màu hồng. Nhà nước Pháp phong thưởng cho ông tước Hàn lâm viện cùng một số tiền lớn.

Sau khi về nước, ông vẫn tiếp tục công việc viết báo, sáng tác và làm thông sự ở ty Phiên dịch Nam Kỳ từ năm 1890 đến ngày tạ thế.

Ông ngã bệnh và mất đột ngột ngày 17 tháng 7 năm Canh Tý (tức ngày 11 tháng 8 năm 1900, khi mới 45 tuổi. Mộ ông được táng bên cạnh mộ vợ ở phía sau Trương Gia Từ (nhà thờ gia tộc họ Trương - ngày nay nằm trong khuôn viên của nhà dân tại số 163/25 E, đường Nguyễn Văn Nghi, phường 7, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh, xem clip https://www.youtube.com/watch?v=YNE2GbBQeTo).

Vinh danh[sửa | sửa mã nguồn]

Ông được trao tặng:

- Huy chương Hàn Lâm Viện Pháp quốc (Officier d'académie) - Kim Khánh bội tinh của Nam triều và Hoàng gia Campuchia.

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Fables de la Fontaine. Truyện Phansa diễn ra quốc ngữ (S.: Guilland et Martinon, 1884 - 12 p.)
  • Riche et Pauvre. Phú bần truyện diễn ca (S.: Guilland et Martinon, 1885 - 24 p.; 0$20)
  • Fables de la Fontaine traduites en annamite pour la première fois. Truyện Phansa diễn ra quốc ngữ (S.: Rey et Curiol, 1886 - 80 p.; 0$50)
  • Leçon de langue annamite. Cours autographié au collège des Interprètes (et MM. Chéon) (1886 ?)
  • Les aventures de Télémaque de Fénélon, suive du Châu tử gia huấn (S.: Rey et Curiol, 1887 - 24 p.; 0$20)
  • Joseph, tragédie tirée de l'histoire sainte. Tuồng Joseph (S.: Rey et Curiol, 1888 - 16 p.; 0$10)
  • De Saigon à Paris. Như tây nhựt trình (S.: Rey et Curiol, 1889 - 64 p.; 0$50)
  • Exposition universelle de 1889. Chư quấc thại hội có hình (S.: Rey, Curiol & Cie, 1891 - 72 p.; 0$50) (1896, Deuxième édition)
  • Méthode pour apprendre le français et l'annamite, 1er partie. Tập dạy học tiếng Phansa và tiếng Annam (S.: Rey, Curiol & Cie, 1892 - 32 p.; 0$20)
  • Cours gradué de langue chinoise écrite. Ấu học khải mông (S.: Rey, Curiol & Cie, 1892 - 32 p.; 0$20)
  • Cours gradué de langue chinoise écrite. 2e partie. Ấu học khải mông (S.: Rey, Curiol & Cie, 1893 - 13, 19 p.; 0$20)
  • Cours gradué de langue française en 100 leçons. Pháp học tân lương (S.: Claude et Cie, 1893 - 312 p.; 3$00)
  • Cours gradué de langue française à l'usage des annamites (1895)
  • Préceptes de morale chinoise. Trị gia cách ngôn khuyến hiếu ca (S.: Rey, Curiol & Cie, 1895 - 15 p.; 0$10)
  • Syllabaire quốc-ngữ. Vần quốc-ngữ có hình (0$10)
  • Premières lectures enfantines. Quốc-ngữ sơ giai (S.: Rey et Curiol, 1895 - 8 p.; 0$10)
  • Trésor poétique chinois. Ca từ diển nghỉa (S.: Rey, Curiol & Cie, 1896 - 16 p.; 0$10)
  • Pétite étude chinoise écrite. Tiểu học gia ngôn (S.: Rey, Curiol & Cie, 1896 - 32 p.; 0$20)
  • Morceaux choisis de littérature chinoise. Quatrième partie du Cours gradué de langue chinoise écrite. Cổ văn chơn bữu (S.: Rey, Curiol & Cie, 1896 - 32 p.; 0$20)
  • Tragédie de Bá-ấp-khảo. Tuồng phong thần Bá-ấp-khảo (S.: Rey, Curiol & Cie, 1896, 3e éd. - 24 p.; 0$20)
  • Tragédie de Kim-vân-Kiều. Tuồng Kim-Vân-Kiều, ba thứ (S.: Rey, Curiol & Cie, 1896-1897 - 3 actes 72 p.; 1$00)
  • Entretiens sur la Piété filiale. Hiếu kinh diễn nghĩa, ba thứ tiếng (0$20)
  • Traité de versification annamite. Thi pháp nhập môn (S.: Rey, 1898 - 32 p.; 0$30)
  • Cours pratique et gradué de langue chinoise écrite. Hán học tân lương (S.: Rey, 1899 - 32 p.; 0$50)
  • Introduction à l'étude chinoise. Course gradué de langue chinoise écrite. 3e partie du maître. Tiểu học gia ngôn diễn nghĩa (S.: Rey, 1899 - vii, 65 p.)

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ "Trương gia từ đường thế phả toàn tập", Thành phố Hồ Chí Minh, 1998, trang 5.
  2. ^ "Trương gia từ đường thế phả toàn tập", Thành phố Hồ Chí Minh, 1998, trang 6.
  3. ^ Bùi Đức Tịnh, "Những bước đầu của báo chí, tiểu thuyết và thơ Mới", Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh. 1992.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]