Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Trường Đại học Công nghệ
VNU University of Engineering and Technology
Logo HUET.svg
Địa chỉ
Nhà E3, 144 Xuân Thủy, quận Cầu Giấy, Hà Nội
, ,
Thông tin
LoạiĐại học công lập
Khẩu hiệuSáng tạo - Tiên phong - Chất lượng cao
Thành lập25 tháng 5 năm 2004; 17 năm trước (2004-05-25)[1]
Hiệu trưởngPGS.TS Nguyễn Việt Hà
Nhân viên275[2]
Giảng viên205
Bài hátTrường Đại học Công nghệ mến yêu
Websiteuet.vnu.edu.vn
Thông tin khác
Viết tắtUET
Thành viên củaĐại học Quốc gia Hà Nội
Tổ chức và quản lý
Phó hiệu trưởngTS Nguyễn Anh Thái
GS.TS Chử Đức Trình
Thống kê
Sinh viên đại học3.012
Sinh viên sau đại học324
Nghiên cứu sinh110

Trường Đại học Công nghệ (tiếng Anh: VNU University of Engineering and Technology; viết tắt là: UET) là một trường đại học thành viên của Đại học Quốc gia Hà Nội, được thành lập vào năm 2004[3], địa chỉ tại 144 Xuân Thủy, quận Cầu Giấy, Hà Nội, trong khuôn viên Đại học Quốc gia Hà Nội khu vực Cầu Giấy cùng với các trường thành viên như Trường Đại học Ngoại ngữ, Trường Đại học Kinh tế, Trường Đại học Y Dược, Khoa Luật,...

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

Trường Đại học Công nghệ phát triển từ các khoa truyền thống và danh tiếng của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội:

  • Ngày 11/2/1995, thành lập Khoa Công nghệ Thông tin thuộc Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Đại học Quốc gia Hà Nội).
  • Ngày 3/1/1996, Khoa Công nghệ Điện tử - Viễn thông được thành lập.
  • Ngày 18/10/1999, Giám đốc ĐHQGHN đã ký quyết định số 1348/TCCB thành lập Khoa Công nghệ trên cơ sở sắp xếp, tổ chức lại Khoa Công nghệ Thông tin và Khoa Công nghệ Điện tử - Viễn thông thuộc Trường Đại học Khoa học Tự nhiên thành hai ngành thuộc Khoa Công nghệ. Cùng với sự ra đời của Khoa Công nghệ, ĐHQGHN đã thành lập Trung tâm Hợp tác Đào tạo và Bồi dưỡng cơ học trực thuộc ĐHQGHN.
  • Ngày 25/5/2004, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 92/2004/QĐ-TTg thành lập Trường Đại học Công nghệ trên cơ sở khoa Công nghệ và Trung tâm Hợp tác Đào tạo và Bồi dưỡng Cơ học thuộc ĐHQGHN

Quá trình phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

  • Sau khi hình thành, Trường Đại học Công nghệ nhanh chóng ổn định tổ chức, bộ máy với việc tái thành lập Khoa Công nghệ Thông tin và Khoa Điện tử - Viễn thông.
  • Ngày 9/9/2004, thành lập Khoa Vật lý Kỹ thuật và Công nghệ Nano.
  • Ngày 4/7/2005, thành lập Khoa Cơ học Kỹ thuật và Tự động hóa.
  • Ngày 8/4/2005, thành lập Trung tâm Nghiên cứu Sinh học Phân tử (đến ngày 8/3/2007 được tổ chức lại thành Bộ môn Công nghệ Nano Sinh học thuộc Khoa Vật lý Kỹ thuật và Công nghệ Nano).
  • Ngày 18/12/2017, thành lập Viện Công nghệ Hàng không Vũ trụ.
  • Ngày 08/01/2018, thành lập Viện Tiên tiến về Kỹ thuật và Công nghệ.
  • Ngày 28/03/2018, thành lập Bộ môn Công nghệ Xây dựng – Giao thông.
  • Ngày 18/12/2018, thành lập Khoa Công nghệ Nông nghiệp.

Tổ chức – Quản lý[sửa | sửa mã nguồn]

Ban giám hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Các đơn vị trực thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

  • Khoa Công nghệ thông tin
    • Chủ nhiệm khoa: PGS.TS. Lê Sỹ Vinh
    • Các Phó Chủ nhiệm khoa: PGS.TS. Phan Xuân Hiếu, TS. Dương Lê Minh, PGS. TS. Phạm Ngọc Hùng
  • Khoa Điện tử Viễn thông
    • Chủ nhiệm khoa: TS. Đinh Triều Dương
    • Phó Chủ nhiệm khoa: TS. Nguyễn Thị Thanh Vân
  • Khoa Vật lý kỹ thuật và Công nghệ Nano
    • Chủ nhiệm khoa: PGS.TS. Phạm Đức Thắng
    • Phó Chủ nhiệm khoa: PGS.TS. Đỗ Thị Hương Giang
  • Khoa Cơ học kỹ thụât và Tự động hoá
    • Chủ nhiệm khoa: PGS.TS. Phạm Mạnh Thắng
    • Các Phó Chủ nhiệm khoa: PGS. TS. Đặng Thế Ba, PGS. TS. Nguyễn Việt Khoa
  • Khoa Công nghệ nông nghiệp
    • Chủ nhiệm khoa: GS.TS. Lê Huy Hàm
  • Viện Công nghệ Hàng không vũ trụ
    • Các Phó Viện trưởng: PGS.TS. Trương Ninh Thuận, TS. Đặng Đình Thi, TS. Bùi Quang Hưng
  • Bộ môn Công nghệ Xây dựng – Giao thông
    • Chủ nhiệm bộ môn: GS.TSKH Nguyễn Đình Đức
  • Viện Tiên tiến về Kỹ thuật và Công nghệ
    • Viện trưởng: PGS.TS. Nguyễn Linh Trung
  • Phòng thí nghiệm trọng điểm Hệ thống tích hợp thông minh
    • Giám đốc: PGS.TS. Trần Xuân Tú
  • Phòng thí nghiệm trọng điểm Công nghệ Micro Nano
    • Đồng Giám đốc: GS. TS Nguyễn Hữu Đức và GS.TS Cheolgi Kim
    • Phó Giám đốc: PGS. TS Phạm Đức Thắng
  • Trung tâm nghiên cứu Điện tử Viễn thông
    • Phó Giám đốc phụ trách: TS. Bùi Thanh Tùng
  • Trung tâm Công nghệ tích hợp Giám sát hiện trường
    • Giám đốc: TS. Bùi Quang Hưng

Các phòng ban[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phòng Đào tạo
    • Trưởng phòng: PGS.TS. Nguyễn Phương Thái
    • Phó Trưởng phòng: ThS. Lê Thị Phương Thoa
  • Phòng Khoa học Công nghệ và Hợp tác Phát triển (KHCN&HTPT)
    • Trưởng phòng: PGS.TS. Trần Xuân Tú
    • Phó Trưởng phòng: TS. Phạm Minh Triển
  • Phòng Tổ chức cán bộ
    • Trưởng phòng: TS. Tô Văn Khánh
  • Phòng Hành chính - Quản trị
    • Trưởng phòng: TS. Phạm Minh Triển
  • Phòng Kế hoạch - Tài chính
    • Trưởng phòng: TS. Trần Mậu Danh
  • Phòng Công tác sinh viên
    • Trưởng phòng: TS. Bùi Ngọc Thăng
    • Phó Trưởng phòng: TS. Nguyễn Ngọc An
  • Phòng Thanh tra & Pháp chế
    • Phó Trưởng phòng, Phụ trách phòng: ThS. Trần Thị Cẩm Lệ

Đào tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Đào tạo Đại học[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Công nghệ thông tin (Chương trình Chuẩn và Chất lượng cao)
  2. Công nghệ thông tin định hướng thị trường Nhật Bản
  3. Khoa học máy tính (TT23)
  4. Hệ thống thông tin (TT23)
  5. Mạng máy tính và Truyền thông dữ liệu (TT23)
  6. Công nghệ kỹ thuật điện tử - truyền thông (TT23)
  7. Kỹ thuật máy tính
  8. Kỹ thuật Robot
  9. Vật lý kỹ thuật
  10. Kỹ thuật năng lượng
  11. Cơ kỹ thuật
  12. Công nghệ kỹ thuật Cơ điện tử (TT23)
  13. Kỹ thuật điều khiển và Tự động hóa
  14. Công nghệ kỹ thuật xây dựng - giao thông
  15. Công nghệ hàng không vũ trụ
  16. Công nghệ nông nghiệp

*TT23: Chương trình Chất lượng cao đáp ứng Thông tư 23 của Bộ GD&ĐT

Đào tạo Sau Đại học[sửa | sửa mã nguồn]

Các chuyên ngành đào tạo Tiến sĩ[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Hệ thống thông tin
  2. Khoa học máy tính
  3. Kỹ thuật phần mềm
  4. Mạng máy tính và truyền thông dữ liệu
  5. Kỹ thuật điện tử
  6. Kỹ thuật viễn thông
  7. Cơ kỹ thuật
  8. Vật liệu và linh kiện nano

Các chuyên ngành đào tạo Thạc sĩ[sửa | sửa mã nguồn]

  1. An toàn thông tin
  2. Hệ thống thông tin
  3. Khoa học máy tính
  4. Kỹ thuật phần mềm
  5. Mạng máy tính và truyền thông dữ liệu
  6. Quản lý hệ thống thông tin
  7. Kỹ thuật điện tử
  8. Kỹ thuật viễn thông
  9. Cơ kỹ thuật
  10. Công nghệ kỹ thuật cơ điện tử
  11. Vật liệu và linh kiện nano

Đội ngũ giảng viên[sửa | sửa mã nguồn]

Đội ngũ giảng viên của Đại học Công nghệ được đào tạo bài bản, có học hàm, học vị cao (giảng viên có trình độ Tiến sĩ trở lên đạt 58%, giảng viên có học hàm Giáo sư, Phó Giáo sư đạt 17,7%), bao gồm: 8 Giáo sư, 29 Phó Giáo sư, 81 Tiến sĩ.[2]

Hoạt động Hội Sinh viên[sửa | sửa mã nguồn]

Có 14 câu lạc bộ trực thuộc Hội Sinh viên Trường Đại học Công nghệ:

  • CLB Hỗ trợ sinh viên – SGUET
  • CLB Thư viện Hội sinh viên
  • CLB Thuyết trình
  • CLB Nguồn nhân lực – HRTech
  • CLB Tiếng Anh – EC
  • CLB Sinh viên vận động hiến máu – Đội Người Việt trẻ
  • CLB Nghệ thuật – PC
  • CLB Truyền thông – UETLC
  • CLB Toán ứng dụng – AMC
  • CLB Điện tử và Tự động hóa – UETX
  • CLB Bóng đá - UET FC
  • CLB Tiếng Nhật - JAPIT
  • CLB Nhảy cổ động - Galaxy UET Cheerleading Squad
  • CLB Hỗ trợ nghiên cứu khoa học và Khởi nghiệp - LoM
  • CLB Hàng không vũ trụ - ACUET

Hoạt động tình nguyện[sửa | sửa mã nguồn]

  • Mùa đông ấm
  • Tiếp sức mùa thi
  • Tình nguyện xa

Thành tích trong những năm qua[sửa | sửa mã nguồn]

Từ năm 2009 đến nay, Trường triển khai áp dụng toàn diện phương thức đào tạo tín chỉ thay thế đào tạo niên chế. Chất lượng đào tạo được nâng lên, tỷ lệ tốt nghiệp đạt trên 96%, trong đó tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp đúng hạn đạt trung bình 70%. Công tác tuyển sinh đầu vào bậc ĐH, SĐH được quan tâm, điểm chuẩn tuyển sinh ĐH của Trường ĐHCN luôn giữ ở mức cao và ổn định nằm trong nhóm các trường dẫn đầu của cả nước, quy mô tuyển sinh đại học tăng hợp lý, năm 2004: 470 chỉ tiêu; năm 2014: 700 chỉ tiêu; năm 2017: 1.120 chỉ tiêu.

Trường ĐHCN cũng là địa chỉ tin cậy được Bộ GD&ĐT giao thực hiện nhiệm vụ huấn luyện, bồi dưỡng đội tuyển học sinh Việt Nam dự Thi Olympic tin học quốc tế từ năm 2011. Sinh viên Trường ĐHCN nhiều năm liên tục đạt giải cao trong các kỳ thi ACM, PROCON, Imagine cup, Olympic Tin học, Toán học, Vật lý,…, đạt được nhiều giải trưởng như Honda Yes,… Đặc biệt, năm 2016, Đội tuyển BYTE – là một trong hai trường đại diện của Việt Nam tham gia Vòng chung kết toàn cầu kỳ thi Lập trình sinh viên quốc tế toàn cầu ACM/ICPC đãgiành vị trí thứ 29 (là thứ hạng cao nhất của các đội tuyển Việt Nam từ trước đến nay) và đưa Việt Nam vào quốc gia có vị trí thứ 14 tại cuộc thi ACM/ICPC 2016.

Hoạt động kiểm định chất lượng (KĐCL) được coi là thước đo cho mọi hoạt động của Nhà trường. Nhà trường đã thực hiện KĐCL trường đại học, lần 1 năm 2008, lần 2 năm 2012, lần 3 năm 2016 và được cấp chứng nhận cơ sở giáo dục đại học đạt chuẩn kiểm định chất lượng theo bộ tiêu chuẩn của Bộ GD&ĐT. Đến nay, Trường ĐHCN đã có 03 chương trình đào tạo (CNTT, ĐTVT, KHMT) được kiểm định theo bộ tiêu chuẩn AUN-QA của Mạng lưới các Trường Đại học Đông Nam Á. Tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp có việc làm trong vòng 6 tháng sau tốt nghiệp đạt kết quả cao là 96%.

Nhà trường hiện có hơn 50 đối tác nước ngoài đang duy trì các hợp tác trong đào tạo, nghiên cứu, trong đó có những đối tác chiến lược. Từ các hoạt động hợp tác quốc tế, hằng năm Nhà trường đã cử hơn 80 lượt cán bộ đi tham quan, học tập, giao lưu…ở nước ngoài, trong đó hơn 50% lượt chuyến đi do phía đối tác tài trợ. Đặc biệt, Nhà trường tiếp tục đẩy mạnh hợp tác trường-viện trong đào tạo, nghiên cứu vớicác viện nghiên cứu chuyên ngành như Viện Cơ học, Viện Khoa học Vật liệu, Viện Công nghệ Sinh học, Viện Vật lý, Viện Công nghệ Vũ trụ thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Viện Khoa học Công nghệ Quân sự thuộc Bộ Quốc phòng, Tập đoàn IMI thuộc Bộ Công thương để xây dựng và phát triển các khoa mới, các ngành/chuyên ngành đào tạo mới và hợp tác cùng thực hiện đề tài KHCN. Nhà trường đã ký mới thỏa thuận hợp tác với Trung tâm Vệ tinh Quốc gia, Viện Cơ khí. Năm 2007, Trường ĐHCN hợp tác với Tập đoàn Toshiba thành lập phòng thí nghiệm phối thuộc Toshiba-UET đặt tại Trường ĐHCN. Năm 2011, Trường đã hợp tác với IBM ra mắt Trung tâm Xuất sắc IBM đặt tại trường ĐHCN và là CoE đầu tiên của IBM ở khu vực ASEAN. Đồng thời, Trường ĐHCN là thành viên sáng lập của Mạng lưới đào tạo chuyên nghiệp châu Á (APEN) và mở rộng hợp tác với các đối tác Nga, Mỹ, Nhật Bản và Hàn Quốc. Năm 2017, Trường hợp tác với Đại học Công nghệ Sydney (Úc) thành lập Trung tâm Nghiên cứu, Đổi mới và phát triển công nghệ (JTIRC) đặt trụ sở tại tầng 7 Nhà E3 của Trường ĐHCN; hợp tác với Tập đoàn Viễn thông quân đội Viettel xúc tiến Thành lập Viện Công nghệ hàng không vũ trụ và mở chương trình đào tạo đại học về hàng không vũ trụ.[1]

Hiệu trưởng qua các thời kì[sửa | sửa mã nguồn]

STT Giai đoạn Hiệu trưởng Chức vụ cao nhất
1 2004 - 2005 GS. VS Nguyễn Văn Hiệu Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
2 2005 - 2009 GS.TS Nguyễn Hữu Đức Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội
3 2009 - 2014 PGS.TS Nguyễn Ngọc Bình Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ
4 2014 - nay PGS.TS Nguyễn Việt Hà Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a b “Lịch sử hình thành và phát triển Trường Đại học Công nghệ”. Trường Đại học Công nghệ.
  2. ^ a b “Đội ngũ cán bộ Trường Đại học Công nghệ”. Trường Đại học Công nghệ.
  3. ^ Quyết định thành lập của Thủ tướng Chính phủ ViệtNam

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]