Trường Đại học Công nghệ Thông tin, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

N

Trường Đại học Công nghệ Thông tin - Đại Học Quốc Gia TP. Hồ Chí Minh
Thành lập 2006
Loại hình Công lập
Hiệu trưởng PGS.TS.Dương Anh Đức
Địa chỉ Km 20, Xa lộ Hà Nội, Phường Linh Trung, Quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
Trang web www.uit.edu.vn

Trường Đại học Công nghệ Thông tin - Đại Học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh (tên tiếng Anh: University of Information Technology, Vietnam National University - Ho Chi Minh city; viết tắt: UIT)[1] [2] [3] là đại học công lập thuộc hệ thống Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là trường đào tạo các ngành liên quan đến máy tính. Khóa cử nhân chính quy đầu tiên của trường khai giảng vào ngày 6 tháng 11, 2006. Đại học Công Nghệ Thông Tin - ĐHQG HCM hiện đang là đối tác lớn của các công ty về lĩnh vực truyền thông, điện tử, phần mềm về cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cả về kỹ năng và trách nhiệm.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 08/06/2006, Trường Đại học Công nghệ Thông tin được thành lập theo quyết định số 134/2006/QĐ-TTg[4] của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở Trung tâm Phát triển Công nghệ Thông tin và khai giảng năm học đầu tiên vào tháng 10/2006. Hiệu trưởng đầu tiên của trường là GS. TSKH. Nhà giáo Ưu tú Hoàng Văn Kiếm (2006 - 2011)

Trường Đại học Công nghệ Thông tin là một trường công lập, thành viên của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Trường có nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực công nghệ thông tin chất lượng cao góp phần tích cực vào sự phát triển của nền công nghiệp công nghệ thông tin Việt Nam, đồng thời tiến hành nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ thông tin tiên tiến, đặc biệt là hướng vào các ứng dụng nhằm góp phần đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.[5]

Tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

BAN GIÁM HIỆU

Hiện nay, Ban Giám Hiệu trường Đại học Công Nghệ Thông Tin (2011 - 2016), gồm 3 người:

  • Hiệu trưởng: NGƯT.PGS.TS. Dương Anh Đức
  • Phó Hiệu trưởng:
    • TS. Nguyễn Hoàng Tú Anh
    • PGS.TS. Đinh Đức Anh Vũ

Mục tiêu và nhiệm vụ[sửa | sửa mã nguồn]

Trong phạm vi ĐHQGTPHCM, trường ĐHCNTT đóng vai trò là một bộ phận phát triển nhanh lên phía trước, đạt chuẩn khu vực và quốc tế trong lĩnh vực CNTT. Đây sẽ là nhân tố tích cực tác động trở lại và hỗ trợ các đơn vị cùng đi lên, tiến tới sự phát triển toàn cục của ĐHQG-HCM. Trên tinh thần đó, trường ĐHCNTT có các chức năng - nhiệm vụ chính sau:

  1. Tổ chức đào tạo đại học, sau đại học với đội ngũ giảng viên giỏi trong và ngoài nước, với nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy tiên tiến và trang thiết bị hiện đại nhằm đào tạo nguồn nhân lực CNTT chất lượng cao đạt trình độ khu vực và quốc tế, đáp ứng nhu cầu nhân lực xây dựng ngành công nghiệp CNTT, đặc biệt là CNPM.
  2. Tổ chức nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu triển khai-ứng dụng, chuyển giao công nghệ và sản xuất thử các công nghệ CNTT tiên tiến nhằm tạo ra các sản phẩm CNTT có giá trị sử dụng trong nước và hướng đến xuất khẩu. Tăng cường triển khai các nghiên cứu ứng dụng CNTT trong thương mại điện tử, giáo dục điện tử, chính phủ điện tử. Từng bước xây dựng mô hình đại học nghiên cứu, trong đó công tác nghiên cứu triển khai gắn kết chặt chẽ với đào tạo nguồn nhân lực CNTT chất lượng cao.
  3. Thực hiện nhiệm vụ đi đầu trong việc tiếp thu nhanh các thành tựu giáo dục tiên tiến của các nước trong khu vực và quốc tế góp phần đổi mới nội dung chương trình và phương pháp giảng dạy. Xây dựng mô hình đại học số hóa trong đó CNTT được ứng dụng trong mọi hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học và triển khai ứng dụng.
  4. Thực hiện vai trò tiên phong trong quá trình hội nhập với nền giáo dục đại học của khu vực và thế giới; liên kết với các trường đại học có uy tín trên thế giới và trong nước, các công ty hàng đầu trong lĩnh vực CNTT để nâng cao chất lượng đào tạo, kỹ năng triển khai công nghệ, nâng cao trình độ chuyên môn của giảng viên và năng lực cán bộ quản lý

Đào tạo nguồn nhân lực CNTT chất lượng cao, tăng cường đào tạo Đại học và Sau đại học, đào tạo nguồn nhân lực đạt trình độ khu vực và quốc tế, đáp ứng nhu cầu nhân lực xây dựng ngành công nghiệp CNTT và cung cấp nhân lực cho các khu vực kinh tế trọng điểm trên cơ sở áp dụng các phương pháp đào tạo tiên tiến gắn liền với nghiên cứu chuyển giao công nghệ tiên tiến.

Các chương trình đào tạo của trường ĐHCNTT được chia thành ba cấp độ: đại học, cao học và tiến sĩ với những mục tiêu đào tạo khác nhau:

Đào tạo trình độ đại học là đào tạo người học có phẩm chất chính trị, có đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành, có khả năng nắm bắt được các tiến bộ khoa học – kỹ thuật mới của ngành CNTT, khả năng triển khai ứng dụng và khả năng giao tiếp bằng tiếng Anh.

Đào tạo Thạc sĩ giúp học viên nắm vững lý thuyết, có trình độ cao về thực hành, có khả năng giải quyết các vấn đề riêng biệt về CNTT.

Chương trình đào tạo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đào tạo đại học: Trường ĐHCNTT đào tạo nguồn nhân lực chuyên nghiệp cho công nghiệp CNTT thông qua các chương trình đào tạo tiên tiến về CNTT ở bậc đại học. CNTT được ứng dụng mạnh mẽ trong quá trình tổ chức đào tạo, thay đổi nội dung, phương pháp giảng dạy theo hướng hiện đại và bám sát các yêu cầu của thực tiễn, đồng thời tăng cường khả năng sử dụng tiếng Anh cho sinh viên. Trường ĐHCNTT đào tạo theo 06 ngành đào tạo sau:
  • Đào tạo Sau đại học: Trường ĐHCNTT đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ qua các chương trình đào tạo tiên tiến về CNTT. Trường đẩy mạnh hợp tác với các cơ sở nghiên cứu CNTT hàng đầu trong Khu vực và Thế giới. Hoạt động đào tạo trình độ Sau đại học được tổ chức theo hướng gắn kết chặt chẽ với các phòng thí nghiệm và các nhóm nghiên cứu, các chương trình phát triển CNTT, các đề tài, dự án quốc gia, quốc tế và khu vực.
    • Trên cơ sở chương trình khung của Bộ Giáo dục - Đào tạo vừa mới được xây dựng trong năm 2004, xây dựng các môn học bổ túc theo hướng giúp sinh viên nắm vững các công nghệ tiên tiến. Các môn học bổ túc được thực hiện qua hợp tác với các công ty hàng đầu về CNTT như IBM, Microsoft, CISCO, SunJava và được cấp các chứng chỉ quốc tế [cần dẫn nguồn].
    • Hướng tới xây dựng hòan chỉnh hệ thống giáo trình, cổng tri thức với hệ thống tài nguyên học tập đầy đủ và phong phú, thường xuyên được cập nhật.
    • Xây dựng chương trình tăng cường tiếng Anh cho sinh viên theo tiêu chuẩn quốc tế nhằm giúp sinh viên thông thạo tiếng Anh khi tốt nghiệp
    • Sử dụng chương trình tiên tiến về CNTT của các đại học quốc tế [cần dẫn nguồn]

Phương thức tổ chức giảng dạy[sửa | sửa mã nguồn]

Phương pháp giảng dạy đã và đang hướng đến:

  • Sử dụng hệ thống tín chỉ.
  • Đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng hiện đại, đưa công nghệ trực tuyến vào giảng dạy, tổ chức các buổi thảo luận trao đổi trực tuyến qua mạng nhằm tận dụng công nghệ trực tuyến để đưa chất xám của các chuyên gia trong và ngoài nước nhanh chóng đến với sinh viên.
  • Công nghệ thông tin được ứng dụng mạnh mẽ trong quá trình tổ chức đào tạo, thay đổi nội dung, phương pháp giảng dạy theo hướng hiện đại và bám sát các yêu cầu của thực tiễn, đồng thời tăng cường khả năng sử dụng tiếng Anh cho sinh viên.
  • Sinh viên được cấp tài khoản truy cập hệ thống tài nguyên học tập và hệ thống giáo trình điện tử trong quá trình học cho một số môn học.

Cấu trúc chương trình

  • Chương trình được phân bố hợp lý giữa lý thuyết và thực hành, giữa các môn học đại cương - chuyên ngành nhằm đáp ứng kiến thức cơ bản và công nghệ giúp sinh viên ngay từ năm thứ 3 có thể tham gia các đề tài nghiên cứu và chuyển giao Công nghệ.

Cơ sở vật chất Trường ĐH CNTT được sử dụng khuôn viên đất là 12,3 hecta trong khu quy hoạch của ĐHQG-HCM tại Thủ Đức, Tp.Hồ Chí Minh, diện tích sàn xây dựng là 93.750 m2, kinh phí là 412 tỉ VNĐ (đối diện khu du lịch Suối Tiên).

  • Hệ thống các phòng thí nghiệm thực tập máy tính với cấu hình cao.
  • Hệ thống phòng học trực tuyến phục vụ giảng dạy qua mạng và hệ thống các phòng học trực tuyến đặt tại các đơn vị liên kết tại các tỉnh thành từ Bắc đến Nam.
  • Xây dựng thư viện điện tử của trường Đại học CNTT với kho tài liệu điện tử chuyên ngành CNTT với hàng ngàn sách điện tử và luận văn, luận án Thạc sĩ, Tiến sĩ chuyên ngành CNTT.[cần dẫn nguồn]

Nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, hợp tác quốc tế:

ĐH CNTT tập trung chuyên nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng CNTT theo các hướng:

  • Phát triển và phổ biến các công nghệ thông tin mới.
  • Phát triển và gia tăng các năng lực cơ bản của máy tính và các thiết bị CNTT.
  • Phát triển gia tăng các năng lực giải quyết vấn đề bao gồm các nghiên cứu về thuật giải (heuristic, genetic, mạng neural), ngôn ngữ và phần mềm máy tính, công cụ khai thác tri thức, các hệ thống thông tin tiên tiến.
  • Phát triển các nghiên cứu cơ bản nhằm khai thác hiệu quả các tài nguyên thông tin.
  • Nghiên cứu phát triển và ứng dụng công nghệ tiên tiến hỗ trợ công tác đào tạo chất lượng cao.

Chuyển giao công nghệ và triển khai CNTT tiên tiến

  • Dự án phát triển và phổ biến các phần mềm hỗ trợ giáo dục đào tạo và đào tạo trực tuyến (E-learning).
  • Dự án phát triển các ứng dụng CNTT trong kinh tế và thương mại điện tử
  • Dự án phát triển các phần mềm ứng dụng CNTT trong tài nguyên môi trường.
  • Dự án phát triển các phần mềm ứng dụng CNTT trong công nghệ sinh học, y tế.
  • Dự án phát triển các phần mềm hỗ trợ giao tiếp người-máy thông minh trên cơ sở tiếng Việt.
  • Dự án phát triển các phần mềm ứng dụng CNTT trong an ninh, quốc phòng.

Đào tạo gắn kết với doanh nghiệp:

  • Kết hợp triển khai RD (nghiên cứu và phát triển) trong các doanh nghiệp, khu Công nghệ phần mềm của Đại học quốc gia Tp. Hồ Chí Minh tạo điều kiện cho Sinh viên tiếp cận với môi trường làm việc thực tế, học hỏi theo phong cách hiện đại hội nhập nền kinh tế tri thức.
  • Hướng đến mời giảng viên từ doanh nghiệp CNTT, tổ chức mô hình thực tập tại trường, khu CNPM ĐHQG-HCM, đưa sinh viên đến thực tập tại công ty CNTT để sinh viên làm quen với thực tiễn.

Quyền lợi của sinh viên[sửa | sửa mã nguồn]

  • Sinh viên tiếp cận phương thức đào tạo tiên tiến, chương trình đào tạo cập nhật hàng năm phù hợp doanh nghiệp và các chương trình quốc tế.
  • Sinh viên đươc tham gia nghiên cứu và các đề án sản xuất phần mềm ngay từ năm thứ 3.
  • Ngoài chính sách học bổng theo quy định, sinh viên được hưởng các chế độ học bổng khác của doanh nghiệp, các tổ chức đào tạo trong nước và quốc tế.
  • Sinh viên được tham gia các câu lạc bộ học thuật, năng khiếu do trường tổ chức.
  • Sử dụng hệ thống mạng chất lượng, hổ trợ học tập ngoài giờ cũng như học tiếng Anh thực hành.
  • Sử dụng hệ thống tài nguyên học tập phong phú bao gồm thư viện điện tử, Giáo trình điện tử, Luận văn tốt nghiệp Đại học và Sau đại học.

Đào tạo Tiến sĩ giúp nghiên cứu sinh nắm vững lý thuyết, có trình độ cao về thực hành, có khả năng phát hiện và giải quyết những vấn đề trong ngành CNTT, có khả năng sáng tạo và tổng hợp cao, có năng lực lãnh đạo nhóm nghiên cứu và triển khai các dự án CNTT.

Trường Đại học Công nghệ thông tin định hướng xây dựng theo mô hình đại học nghiên cứu trên nền tảng của đại học số hóa.

Tuyển sinh[sửa | sửa mã nguồn]

Hằng năm, hệ cử nhân chính quy được tuyển sinh bằng kì thi quốc gia.

Thông thường, chỉ tiêu của mỗi ngành khoảng 150 đến 170 sinh viên. Khi hoàn tất xây dựng cơ sở vật chất, trường sẽ xem xét tăng chỉ tiêu tuyển sinh.

  • Năm 2006, trường chi tuyển sinh nguyện vọng 2, điểm trúng tuyển là 19. Các sinh viên học chung đại cương trong 2 năm đầu, năm thứ 3 bắt đầu phân chuyên ngành.
  • Điểm trúng tuyển năm 2007 là 20 điểm. Các sinh viên học chung đại cương trong 2 năm đầu, năm thứ 3 bắt đầu phân chuyên ngành.
  • Kì thi tuyển sinh 2008, 5 ngành của trường có điểm trúng tuyển khác nhau:
Công Nghệ Phần Mềm: 24
Mạng Máy Tính và Truyền Thông: 21
Khoa Học Máy Tính: 20
Hệ Thống Thông Tin: 20
Kĩ Thuật Máy Tính: 19
  • Kì thi tuyển sinh 2009, 5 ngành của trường có điểm trúng tuyển khác nhau:
Công Nghệ Phần Mềm: 18
Mạng Máy Tính và Truyền Thông: 17
Khoa Học Máy Tính: 16
Hệ Thống Thông Tin: 16
Kĩ Thuật Máy Tính: 16
  • Kì thi tuyển sinh 2010, 5 ngành của trường có điểm trúng tuyển khác nhau:
Công Nghệ Phần Mềm: 18.5
Mạng Máy Tính và Truyền Thông: 17
Khoa Học Máy Tính: 16.5
Hệ Thống Thông Tin: 16
Kĩ Thuật Máy Tính: 16
  • Kì thi tuyển sinh 2011, 5 ngành của trường có điểm trúng tuyển khác nhau:
Công Nghệ Phần Mềm: 17
Mạng Máy Tính và Truyền Thông: 16
Khoa Học Máy Tính: 15
Hệ Thống Thông Tin: 15
Kĩ Thuật Máy Tính: 15
  • Kì thi tuyển sinh 2012, trường lấy điểm chuẩn chung cho cả 5 ngành là 20 điểm (môn toán nhân hệ số 2). Và xét tuyển thêm ngành An Ninh Thông Tin
  • Kì thi tuyển sinh 2013, 6 ngành của trường có điểm trúng tuyển khác nhau(môn toán nhân hệ số 2):
Công Nghệ Phần Mềm: 27.5
Mạng Máy Tính và Truyền Thông: 25
Khoa Học Máy Tính: 24.5
Hệ Thống Thông Tin: 24.5
Kĩ Thuật Máy Tính: 24.5
Công Nghệ Thông Tin: 24.5
Đại học công nghệ thông tin

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]