Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Vietnam National University of Agriculture
Tên gọi khác Đại học Nông Lâm, Học viện Nông lâm, Đại học Nông nghiệp, Đại học Nông nghiệp I, Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội
Thành lập 1956
Loại hình Đại học công lập
Giám đốc GS.TS.. Trần Đức Viên
Địa chỉ thị trấn Trâu Quỳ, Gia Lâm
Hà Nội, Việt Nam
Vị trí Hà Nội, Việt Nam
Trang mạng [1]

Học viện Nông nghiệp Việt Nam trước là Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội (tên tiếng Anh: Vietnam National University of Agriculture, viết tắt VNUA) là một trường đại học chuyên về nông nghiệp đóng ở Thị trấn Trâu Quỳ, Huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội, cách trung tâm TP. Hà Nội 12 km.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Giai đoạn 1956 – 1966[1]
  • Thành lập trường đại học Nông lâm theo nghị định số 53/NĐ-NL ngày 12/10/1956 của Bộ Nông Lâm, gồm 03 khoa: Nông học, Chăn nuôi -Thú y, Lâm học; có 5 ngành học, gồm: trồng trọt, cơ khí nông nghiệp, chăn nuôi, thú y và lâm nghiệp. Có 03 phòng Hành chính quản trị, Tổ chức cán bộ và Giáo vụ.
  • Năm 1958, sáp nhập thêm Viện khảo cứu trồng trọt, Viện khảo cứu chăn nuôi, phòng nghiên cứu gỗ và lâm sinh để trở thành Học viện Nông Lâm.
  • Năm 1961, mở thêm ngành nuôi trồng và đánh bắt chế biến thuỷ sản; thành lập thêm khoa kinh tế nông nghiệp.
  • Năm 1963, Học viện chuyển một phần cán bộ và cơ sở vật chất kỹ thuật để thành lập Viện Khoa học Nông nghiệp.
  • Năm 1964 Học viện tách khoa Lâm học, phòng nghiên cứu gỗ và lâm sinh, một phần tổ bộ môn cơ khí, một phần các tổ bộ môn khoa kinh tế để thành lập trường Đại học Lâm nghiệp (nay là Đại học Lâm nghiệp Việt Nam). Lúc này phần còn lại của trường đổi tên thành Đại học Nông nghiệp.
Giai đoạn 1967 – 1975[1]
  • Tách thành hai trường đại học Nông nghiệp I và Đại học nông nghiệp II (nay là Đại học Nông lâm Huế) theo Quyết định số 124/CP ngày14/8/1967 của Thủ trướng Chính phủ. Trường giữ lại tên gọi chính thức là Trường Đại học Nông nghiệp I.
  • Năm 1968, Trường tách khoa Thuỷ sản ra để thành lập trường Đại học Thuỷ sản (nay là Đại học Nha Trang) theo quyết định số 155-CP của Thủ tướng Chính phủ.
Giai đoạn 1975 – 1990[1]
  • Năm 1977, Trường thành lập thêm Khoa Quản lý ruộng đất. Giai đoạn này Trường có 8 khoa với 9 ngành và chuyên ngành.
Giai đoạn từ 1991 – 2000[1]

Trường đã thực hiện đa dạng hoá các loại hình đào tạo, đào tạo đủ các bậc đại học, sau đại học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề.

Giai đoạn từ 2001 – 2008[1]

Trường có 13 Khoa, 9 Phòng ban, 13 Viện và Trung tâm, có 29 chương trình đào tạo đại học, 24 chương trình đào tạo sau đại học. Trường đã được Đảng cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh năm 2001, Danh hiệu Anh hùng Lao động trong thời kỳ đổi mới năm 2005.

Giai đoạn 2009 đến nay[1]

Ngày 28 tháng 03 năm 2014, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 441/QĐ-TTg thành lập Học viện Nông nghiệp Việt Nam trên cơ sở tổ chức lại Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội.[2]

Nhân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng số giảng viên và nhân viên của trường là 1099 người. Trong đó có 902 giảng viên, 01 nhà giáo nhân dân, 27 nhà giáo ưu tú, 100 giáo sư và phó giáo sư, 300 tiến sĩ, 230 thạc sỹ.

Tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Các khoa[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Khoa Nông học;
  2. Khoa Chăn nuôiNuôi trồng Thủy sản ;
  3. Khoa Thú y;
  4. Khoa Quản lý đất đai;
  5. Khoa Môi trường;
  6. Khoa Công nghệ thông tin;
  7. Khoa Công nghệ sinh học;
  8. Khoa Cơ - Điện;
  9. Khoa Kinh tế và phát triển nông thôn;
  10. Khoa Kế toán và Quản trị kinh doanh;
  11. Khoa Công nghệ thực phẩm;
  12. Khoa Sư phạm và Ngoại ngữ;
  13. Khoa Lý luận chính trị và Xã hội;

Các Viện/Ban/Trung tâm/ Nhà xuất bản[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Ban Quản lý đào tạo;
  2. Viện Sinh học nông nghiệp;
  3. Trung tâm Kĩ thuật Tài nguyênMôi trường;
  4. Trung tâm Sinh thái nông nghiệp (CARES);
  5. Trung tâm VAC;
  6. Trung tâm dạy nghề và ứng dụng kỹ thuật cao;
  7. Trung tâm nghiên cứu bệnh cây nhiệt đới;
  8. Trung tâm thực nghiệm và Đào tạo nghề (EVT)
  9. Trung tâm phát triển nông nghiệp bền vững;
  10. Trung tâm nghiên cứu liên ngành Phát triển nông thôn;
  11. Trung tâm Thông tin-Thư viện;
  12. Trung tâm Thể thao văn hóa;
  13. Viện nghiên cứu lúa;
  14. Viện Kinh tế và Phát triển;
  15. Viện Đào tạo và Kĩ thuật Cơ Điện.
  16. Nhà xuất bản Đại học Nông nghiệp.
  17. Trung tâm giống lợn chất lượng cao.
  18. Trung tâm Bảo tồn và Phát triển nguồn gen cây trồng.

Các khoa và chuyên ngành đào tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Khoa Nông học[sửa | sửa mã nguồn]

Khoa Nông học là một trong ba khoa được thành lập đầu tiên của Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Khoa Nông học, tiền thân là Khoa Trồng trọt, được thành lập từ năm 1956. Đến năm 1997 khoa chính thức đổi tên thành Nông học như hiện nay.

  • Chức năng nhiệm vụ của khoa

1. Đào tạo kỹ sư Nông nghiệp với 6 chuyên ngành: (1) Khoa học cây trồng, (2) Bảo vệ thực vật, (3) Chọn giống cây trồng, (4) Công nghệ Rau - Hoa - Quả, (5) Cử nhân Nông nghiệp, (6) Dâu tằm – nuôi ong mật. Từ năm học 2006 - 2007 đến nay khoa được giao thực hiện Chương trình đào tạo tiên tiến (CTTT) Khoa học cây trồng (crop Science) hợp tác với Đại học UC-DAVIS (UCD) - California (Hoa Kỳ) và Chương trình đào tạo hướng nghiệp Công nghệ rau hoa quả và thiết kế cảnh quan.

2. Đào tạo Thạc sĩ và Tiến sĩ 3 chuyên ngành: (1) Kỹ thuật trồng trọt, (2) Bảo vệ thực vật, (3) Chọn giống cây trồng.

3. Làm công tác nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng về cây trồng, chọn giống cây trồng và bảo vệ thực vật phục vụ sản xuất nông nghiệp nước nhà.

  • Lược sử phát triển

Trải qua 55 năm, Khoa đã nhiều lần tách ra rồi nhập lại với các tên gọi khác nhau.

- Năm 1956: Khoa Trồng trọt - Học viện Nông Lâm.

- Năm 1963: Sau khi Học viện Nông Lâm tách ra thành Viện Khoa Học Nông nghiệp và Trường đại học Nông nghiệp, Khoa Trồng trọt chia làm hai khoa là Khoa Cây công nghiệp và khoa Cây lương thực, thuộc Trường Đại học Nông nghiệp Hà nội.

- Năm 1970: Khoa Cây công nghiệp và Cây lương thực sát nhập trở lại thành Khoa Trồng trọt.

- Năm 1978: Khoa Trồng trọt chia làm ba khoa: Khoa Bảo vệ thực vật – Dâu tằm, Khoa Cây trồng và Khoa Quản lý ruộng đất.

- Năm 1984: Khoa Bảo Vệ Thực Vật – Dâu Tằm và khoa Cây Trồng sát nhập thành khoa Trồng Trọt.

- Năm 1997 Khoa chính thức đổi tên thành khoa Nông học.

  • Cơ sở vật chất của Khoa bao gồm

- 40 phòng làm việc với tổng diện tích sử dụng trên 1400m2

- 13 phòng thí nghiệm, trong đó:

01 phòng thí nghiệm Khoa học cây trồng (do CTTT tài trợ)

01 phòng thí nghiệm chuyên ngành giống (do DANIDA tài trợ)

Phòng Thí nghiệm bệnh lý thực vật (do ACIAR tài trợ)

10 phòng thí nghiệm trực thuộc các bộ môn

- Vườn thực vật rộng 3 ha

- Vườn tiêu bản rộng 1,1 ha

- Khu thí nghiệm đồng ruộng 4,3 ha

- 11 nhà lưới với diện tích mặt bằng trên 2000m2

- 01 phòng máy tính với 40 máy tính nối mạng internet

Đội ngũ cán bộ khoa hiện có 103 người, trong đó có 17 GS&PGS-TS, 25 Tiến sĩ và 26 Thạc sĩ

  • Các chuyên ngành đào tạo
    1. Hệ đại học:
  1. Khoa học cây trồng (trong đó có chuyên ngành khoa học cây trồng tiến tiến hợp tác với trường ĐH: UC DAVIS của Mỹ)
  1. Chọn giống và nhân giống cây trồng
  1. Bảo vệ thực vật
  1. Công nghệ Rau, hoa quả và thiết kế cảnh quan
  1. Cử nhân Nông nghiệp
  1. Dâu tằm và nuôi ong mật
    1. Hệ cao đẳng

Chuyên ngành khoa học cây trồng

    1. Hệ liên thông từ cao đảng lên đại học
  1. Bảo vệ thực vật
  1. Khoa học cây trồng
    1. Hệ sau đại học (thạc sĩ, tiến sĩ):
  1. Kỹ thuật trồng trọt
  1. Chọn giống và nhân giống cây trồng
  1. Bảo vệ thực vật

Khoa Quản lý đất đai[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hệ đại học
    1. Kỹ sư Quản lý đất đai;
    2. Kỹ sư Khoa học đất;
    3. Kỹ sư Nông hóa-thổ nhưỡng;
  • Hệ Sau đại học (thạc sĩ-tiến sĩ);
    1. Thạc sĩ Nông hóa;
    2. Thạc sĩ Thủy nông-cải tạo đất;
    3. Thạc sĩ Quản lý đất đai;
    4. Thạc sĩ Khoa học đất;
    5. Tiến sĩ Nông hoá;
    6. Tiến sỹ Khoa học đất;
    7. Tiến sỹ Thuỷ nông cải tạo đất.

Khoa Môi trường[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hệ đại học
    1. Kỹ sư Môi trường;
  • Hệ Sau đại học
    1. Thạc sĩ Khoa học môi trường.

Khoa Chăn nuôi-nuôi trồng thủy sản[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chăn nuôi
  • Nuôi trồng thủy sản

Khoa Thú y[sửa | sửa mã nguồn]

Trường Đại học Nông Lâm được thành lập ngày 12 - 10 -1956, theo Nghị định số 53/NL – NĐ của Bộ Nông Lâm, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Có 3 Khoa là: Trồng trọt, Chăn nuôi Thú y và Lâm học tại Văn Điển, xã Quỳnh Đô, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông (nay là Hà Nội. Khoa Chăn nuôi Thú y ban đầu có 5 giáo viên:

Bác sỹ Thú y Phạm Khắc Mai, Trưởng Khoa, Điền Văn Hưng, Nguyễn Vĩnh Phước, Nguyễn Xuân Hoạt và Phùng Mạnh Chí. Đến năm 1960 Học viện Nông Lâm chuyển về Trại Bông xã Trâu Quỳ, huyện Gia Lâm, Hà Nội. Khoa Chăn nuôi Thú y chiêu sinh 2 ngành đào tạo riêng biệt là Chăn nuôi và Thú y.

Ngày 01- 9 -1977, Khoa Chăn nuôi Thú y tách thành 2 khoa Chăn nuôi và Thú y. Khoa Thú y của Trường Đại học Nông nghiệp 1 bao gồm 9 tổ bộ môn và thầy Phạm Gia Ninh được bổ nhiệm làm trưởng Khoa đầu tiên. Cũng năm này Khoa Thú Y bắt đầu đào tạo nghiên cứu sinh.

Năm1984, hai khoa Chăn nuôi và Thú y được sát nhập thành Khoa Chăn nuôi Thú y, với nhiệm vụ đào tạo hai ngành học là Chăn nuôi và Thú y.

Năm 2007, Khoa Thú y được tái lập. Đến 2011, đã có hơn 12.000 bác sĩ thú y, kỹ sư chăn nuôi được khoa đào tạo trong đó có 5.430 bác sĩ thú y hệ chính quy, hơn 1.000 người hệ tại chức, 17 bác sĩ thú y cho các nước bạn. Ở tầm khu vực đã có 135 Thú y sỹ và 28 Bác sỹ Thú y, trong đó có khoảng 10 người Căm pu chia và Lào giỏi lý thuyết và thạo tay nghề, đạt tiêu chuẩn Asean và đang tiếp cận với tiêu chuẩn quốc tế, đáp ứng yêu cầu phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn.

Mục tiêu lớn trong giai đoạn mới của khoa là:

- Có khả năng đấu thầu và triển khai các chương trình nghiên cứu khoa học lớn về lĩnh vực Thú y,

- Có khả năng hợp tác quốc tế, hợp tác chặt chẽ và ngang tầm với các nước trong khu vực Asean và thế giới.

- Tham gia mạnh vào hiệp hội các trường đào tạo Thú y của châu Á (AAVS – Association of Asian Veterinary Schools), hiệp hội Bệnh lý Thú Y châu Á (ASVP – Asian Society of Veterinary Pathology), Hiệp hội các Trường đào tạo thú y Đông Nam Á, (SEASA), và chương trình quốc tế Một nền sức khỏe chung (ONE HEALTH).

Khoa Thú y đã và đang có quan hệ hợp tác chặt chẽ với các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới: Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Australia, Hoa Kỳ, Bỉ, và Pháp.

Những cơ quan trong nước liên quan: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Cục Thú y, Viên Thú y, các trung tâm Thú y vùng, chi cục Thú y, Chi cục kiểm dịch, các Trung tâm chuyên môn của Cục Thú y, các Sở Nông nghiệp, Trung tâm khuyến nông, Các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học Nông nghiệp khác.

  • Hệ đại học
    1. Bác sỹ thú y
  • Hệ sau đại học (thạc sĩ - tiến sĩ)
    1. Thú y

Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn[sửa | sửa mã nguồn]

Khoa Kinh tế và PTNT là một trong những khoa lớn của Học viện Nông nghiệp Việt Nam, được thành lập năm 1961 với 5 cán bộ trong một tổ bộ môn do KS Nguyễn Văn Đỉnh là trưởng bộ môn. Năm 1963 sau khi kết hợp với trường HTX Nông nghiệp trung ương, Khoa Kinh tế Nông nghiệp đã chính thức được ra đời với 20 cán bộ, trong đó trình độ cao nhất là đại học với 3 bộ môn truyền thống là Kinh tế nông nghiệp, Tổ chức quản lý xí nghiệp và Thống kế (Thống kê - Kế hoạch - Kế toán). 

Trải qua 45 năm phát triển và trưởng thành, hiện này số lượng cán bộ của Khoa đã tăng tới trên 80 người, trong đó có: 3 giáo sư, 6 phó giáo sư, 26 tiến sĩ, 20 thạc sĩ và 25 kỹ sư và cử nhân. Các cán bộ có trình độ trên đại học chủ yếu được đào tạo từ các nước Liên Xô (cũ), Bungaria, CH Séc, CHDC Đức (cũ) và CHLB Đức, Thái Lan, Philipin, Nhật Bản, Úc, Canada.

Khoa hiện gồm 6 bộ môn và một trung tâm nghiên cứu, đó là bộ môn: Kinh tế, Kinh tế tài nguyên và môi trường, Phân tích định lượng, Phát triển nông thôn, Kinh tế nông nghiệp & chính sách, Kế hoạch đầu tư và Trung tâm Nghiên cứu-đào tạo quản trị nông nghiệp & PTNT. Thư viện của khoa cũng đã được thành lập năm 1990 với trên một nghìn đầu sách và tạp chí tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Đức, tiếng Nhật phục vụ giáo viên và học sinh trong học tập, giảng dạy và nghiên cứu.

Nhiệm vụ chủ yếu của khoa là đào tạo và nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực kinh tế và phát triển nông thôn. Từ ngày đầu thành lập cho tới trước đổi mới (1986) khoa chỉ có một chuyên ngành đào tạo đại học là Kinh tế Nông nghiệp nhưng đến nay Khoa đã phát triển chuyên ngành đào tạo lên đến 5 chuyên ngành là Kinh tế nông nghiệp, Kinh doanh nông nghiệp, Kế toán doanh nghiệp, PTNT& Khuyến nông và Quản trị kinh doanh.

Đối với đào tạo sau đại học, đào tạo thạc sỹ ngành Kinh tế nông nghiệp và tiến sĩ ngành Kinh tế nông nghiệp, Kinh tế phát triển và Kinh tế tổ chức lao động. Số lượng sinh viên đã không ngừng tăng lên bao gồm sinh viên chính quy và sinh viên hệ vừa học vừa làm. Tính đến tháng 3/2006 khoa đã đào tạo được khoảng 7500 cử nhân chính quy và hơn 7000 cử nhân hệ tại chức hiện đang đảm nhiệm ở các vị trí công tác trên các ngành và các vùng miền khác nhau trong cả nước. Khoa cũng đã đào tạo được 52 tiến sĩ và 275 thạc sĩ.  Ngoài việc đảm nhận một lượng công việc lớn là giảng dạy (khoảng 70 sinh viên/giáo viên), cán bộ Khoa đã tham gia nhiều chương trình nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ, cấp Trường; liên kết với các trường đại học, viện nghiên cứu, các tỉnh thành, địa phương và các cơ quan Trung ương để thực hiện nhiều đề tài nghiên cứu và chuyển giao, các dự án và chương trình phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn. Khoa có nhiều liên kết với các bộ như Bộ NN&PTNT, Bộ kế hoạch đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Lao động và thương binh xã hội, các viện nghiên cứu, các sở ở tại các địa phương, các doanh nghiệp và hợp tác xã. Khoa cũng là nơi chủ trì khâu nối các trường đại học chuyên ngành kinh tế nông nghiệp ở các miền Bắc, Trung, Nam tạo ra một mạng luới đào tạo và nghiên cứu khoa học rộng khắp trong cả nước.

Trong những năm gần đây khoa còn mở rộng hợp tác với các trường đại học và các tổ chức quốc tế như ĐHTH Kyushu, ĐH Saga, ĐHTH Tokyo (Nhật Bản), ĐHTH Humbold, ĐHTH Hohenheim (Đức), ĐH Vân Nam (Trung Quốc), ĐHTH Chiang Mai (Thái Lan), AIT, ĐHTH Sydney (Úc), ĐH Codorba (Tây Ban Nha), Gembloux (Bỉ), ĐHTH Gia Nghĩa (Đài Loan), các tổ chức quốc tế như IFAD, REI, IRRI, SEARCA, MCC, JICA, GTZ, UNDP, Ford Foundation, AIDA, SPF... thực hiện nhiều dự án và có nhiều đóng góp trong phát triển nông thôn. Vị trí khoa học của Khoa ngày càng được khẳng định trong Trường, phạm vi quốc gia và quốc tế.

  1. Kinh tế
  2. Kinh tế Nông nghiệp
  3. Phát triển nông thôn

Khoa Kế toán và Quản trị kinh doanh[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Kế toán;
  2. Quản trị kinh doanh;
  3. Kinh doanh nông nghiệp;
  4. Quản trị kinh doanh Nông nghiệp tiên tiến.

Khoa Cơ - Điện[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hệ đại học
    1. Cơ khí nông nghiệp
    2. Cơ khí động lực
    3. Cơ khí chế tạo máy
    4. Cơ khí bảo quản chế biến
    5. Cung cấp và sử dụng điện
    6. Tự động hóa
    7. Công trình nông thôn (công trình)
    8. Công nghiệp nông thôn (công thôn)
  • Thạc sĩ
    1. Kỹ thuật máy và thiết bị cơ giới hoá Nông-lâm nghiệp
    2. Kỹ thuật Ôtô máy kéo
    3. Điện khí hoá sản xuất nông nghiệp và nông thôn
  • Tiến sĩ
    1. Kỹ thuật máy và thiết bị cơ giới hoá nông nghiệp và nông thôn

Khoa Công nghệ sinh học[sửa | sửa mã nguồn]

Khoa công nghệ sinh học được thành lập ngày 23 tháng 10 năm 2008

  • Trình độ đại học:

Kỹ sư công nghệ sinh học

  • Thạc sĩ:

Công nghệ sinh học

Khoa Công nghệ thông tin (FITA)[sửa | sửa mã nguồn]

Website thông tin và học liệu mở của khoa: http://fita.hua.edu.vn

Khoa thành lập ngày 10/10/2005. Khóa đầu tiên là lớp TH47 nhập học năm 2002, ra trường vào tháng 6/2007. Hiện nay Khoa có 05 Bộ môn và 01 Trung tâm:

  • Bộ môn Công nghệ phần mềm;
  • Bộ môn Khoa học máy tính;
  • Bộ môn Toán;
  • Bộ môn Vật lý;
  • Bộ môn Toán - Tin ứng dụng;
  • Trung tâm Tính toán và Tích hợp Dữ liệu

Chương trình đào tạo có 2 ngành:

  1. Kỹ sư tin học
  2. Kỹ sư quản lí thông tin

Khoa Sư phạm và Ngoại ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Giáo viên Kỹ thuật Nông nghiệp
  2. Giáo viên ngoại ngữ

Khoa Lý luận Chính trị và Xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Cử nhân Xã hội học (Chuyên ngành Xã hội học Nông thôn)

Tặng thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Huân chương Độc lập hạng nhì (năm 1991);
  • Huân chương Độc lập hạng ba (năm 1986);
  • Huân chương Lao động hạng nhất (năm 1981);
  • 3 Huân chương Lao động hạng nhì (năm 1977, 1965, 1962);
  • 2 Huân chương Lao động hạng ba (năm 1973, 1960);
  • Huân chương Tự do của CHDCND Lào (năm 1981).
  • Danh hiệu Anh hùng Lao động (năm 2005);
  • Huân chương Hồ Chí Minh (năm 2001);
  • Huân chương Độc lập hạng nhất (năm 1996);
  • Huân chương Lao động hạng nhất của CHDCND Lào (năm 2000);
  • Bộ GD và ĐT khen thưởng và tặng cờ Trường tiên tiến xuất sắc (năm học 1999 – 2000, 2002 –2003); 02 Bằng khen về đào tạo (năm 1997, 1998), 06 Bằng khen về NCKH (từ năm 2001 - 2005);
  • 20 Bằng khen của Bộ Nông nghiệp – PTNT, Bộ KH và CN, của UBND các tỉnh về thành tích đào tạo cán bộ KHKT và chuyển giao công nghệ phục vụ sản xuất;
  • 30 năm liên tục được công nhận đơn vị tiên tiến xuất sắc về TDTT của Thủ đô (1975 – 2005).

Hiệu trưởng qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

  1. GS. Bùi Huy Đáp (1956-1958);
  2. Trần Hữu Dực (1959-1960);
  3. Chu Văn Biên (1960-1962);
  4. Nguyễn Đăng (1963-1975);
  5. GS., TS., NGND Lê Duy Thước (1976-1983);
  6. GS., TS., NGƯT Trần Thị Nhị Hường (1984-1992);
  7. GS., TSKH., NGND Cù Xuân Dần (1992-1996);
  8. GS., TS., NGƯT. Nguyễn Viết Tùng (1996-2001);
  9. GS., TS., NGƯT. Đặng Vũ Bình (2001 đến 2006);
  10. GS.TS. Trần Đức Viên (2007 - nay).

Cựu giảng viên và sinh viên nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Nhà nông học Lương Định Của (1920-1975).
  2. Nguyễn Công Tạn (1935-2014) - Nguyên Phó Thủ tướng, nguyên Giảng viên Bộ môn Canh tác;
  3. Vũ Văn Hiền - Tổng GĐ Đài Tiếng nói Việt Nam, Cựu Sinh viên Lớp Chăn nuôi Khóa 14;[cần dẫn nguồn]
  4. Giáo sư Vũ Tuyên Hoàng (1939-2008) - Nguyên Chủ tịch Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam;
  5. Nguyễn Bá Thanh (1953 - 2015) - Nguyên Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Nguyên Bí thư Thành ủy kiêm Chủ tịch Hội đồng Nhân dân thành phố Đà Nẵng. Nguyên Trưởng ban nội chính Trung ương.
  6. Bùi Quang Vinh (sinh năm 1953) - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá XI, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư[3].
  7. Phạm Gia Ninh trưởng khoa Thú Y nhiều năm, nổi tiếng trong giới thú y chuyên nghiệp thế giới.[cần dẫn nguồn]
  8. Vũ Quang Hội, ông cũng được cho là một trong những người giàu nhất Việt Nam hiện nay, Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty TNHH Sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu Bình Minh Bitexco, chủ các toà nhà The Manor, The Garden, Tòa nhà Financial Tower...

Một số hình ảnh hoạt động của trường[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]