Trường Đại học Quốc tế, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
Hệ thống Đại học Quốc gia
Đại học Quốc tế
Logo
Viết tắt IU; HCM IU
Tên khác Đại học Quốc Tế
Khẩu hiệu Together we make differences. Tạm dịch: Cùng nhau kiến tạo điều khác biệt
Thông tin chung
Loại hình Đại học đa ngành hệ công lập
Thành lập 5 tháng 12 năm 2003
Tổ chức và quản lý
Hiệu trưởng Hồ Thanh Phong
Sinh viên 6 278[1]
Sinh viên đại học 5 809
Sinh viên sau đại học 469
Thông tin khác
Khuôn viên Ngoại ô thành phố, 11.52 héc-ta[2]
Địa chỉ Khu phố 6, phường Linh Trung, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh
Màu Xanh da trời và trắng         
Website www.hcmiu.edu.vn

Trường Đại học Quốc tế Thành phố Hồ Chí Minh (tiếng Anh: Ho Chi Minh City International University) là trường đại học đầu ngành về đào tạo đa ngành tại miền Nam Việt Nam,[3] là một trường đại học của Việt Nam thuộc nhóm ba mươi trường đại học hàng đầu Đông Nam Á của tổ chức Hệ thống Đại học ASEAN.[4][5] Đội ngũ giảng viên, giáo trình, chương trình học được xây dựng hiện đại theo tiêu chuẩn quốc tế có định hướng và liên thông với các trường đại học có thứ hạng cao ở các nước trên thế giới.[6] Đây đồng thời cũng là trường đại học công lập duy nhất tại Việt Nam giảng dạy và nghiên cứu hoàn toàn bằng tiếng Anh.[7][8] Trường lấy nghiên cứu làm trọng tâm phát triển.[9]

Trường trực thuộc hệ thống Đại học Quốc gia, hiện hoạt động theo cơ chế tự chủ thu chi học phí.

Quá trình hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

Là trường Đại học công lập và là thành viên của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh nên nhận được nhiều sự ưu đãi từ Chính phủ cho các dự án trong trường, nhất là các ưu đãi về học phí cho sinh viên có quốc tịch Việt Nam; các khoản viện trợ và cho vay từ quốc tế để xây dựng các phòng thí nghiệm cùng trang thiết bị hiện đại[10]; nguồn giảng viên hàng đầu từ các trường thành viên của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh; cơ sở vật chất hiện đại tại khu vực Làng Đại học Thủ Đức theo quy hoạch của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí MinhUBND Thành phố Hồ Chí Minh[11].

Hiệu trưởng đầu tiên của trường là GS. TSKH. Phan Quốc Khánh. Từ năm 2007, hiệu trưởng nhà trường là PGS. TS. Hồ Thanh Phong[12]. Những năm qua, ban giám hiệu nhà trường đã tiến hành các hoạt động liên kết và trao đổi hợp tác thường xuyên với các trường Đại học xếp hạng cao trên thế giới nhằm tìm kiếm sự hỗ trợ cho việc thực hiện một mô hình Đại học tiên tiến.

Năm 2004: nhà trường đã tuyển sinh khoá đầu với 2 khoa đầu tiên: khoa Quản trị kinh doanh và khoa Khoa học máy tínhKĩ thuật [13].

Niên khoá 2005: nhà trường tiếp tục mở thêm 2 khoa trong chương trình đào tạo cử nhân: khoa Điện tử Viễn thông và khoa Công nghệ sinh học. Trong năm này, trường cũng đã tiến hành liên kết đào tạo chương trình Đại học theo hình thức 2+2 với Đại học NottinghamĐại học West of England.

Trong năm 2006: nhà trường tiếp tục liên kết đào tạo chương trình Đại học với Đại học Công nghệ Auckland của New Zealand.

Năm 2007: khoa Khoa học máy tính và Kĩ thuật của trường mở chuyên ngành đào tạo Khoa học máy tính song song với các chuyên ngành của khoa khác. Trong năm này, trường cũng liên kết đào tạo chương trình Đại học với trường Đại học New South Wales[14] của Úc.

Năm 2008: trường mở thêm liên kết đào tạo với Đại học Rutgers tại tiểu bang New Jersey của Hoa Kỳ. Khoá 2004, khoá sinh viên đầu tiên của trường, cũng tốt nghiệp trong năm này.

Năm 2009: trường tiếp tục hợp tác liên kết đào tạo với Đại học SUNY Binghamton của Hoa KỳViện Công nghệ châu Á của Thái Lan. Đồng thời trường cũng thành lập thêm Bộ môn Kỹ thuật Y sinh vào tháng 3 năm 2009.

Năm 2010: trường mở thêm liên kết ngành quản trị kinh doanh với Đại học Houston, USA.

Năm 2013: trường kỉ niệm 10 năm thành lập, khánh thành toà nhà mới "Khối phòng học và thí nghiệm 2" và đón nhận "Huân chương Lao động hạng Ba".

Ngoài các chương trình đào tạo liên kết, trường còn tiến hành các hoạt động quan hệ hợp tác với các trường Đại học, viện nghiên cứu trong và ngoài Việt Nam. Trong số đó là thoả thuận hợp tác với Trường Kinh doanh Shidler của Đại học Hawaii, Đại học Thompson Rivers, Ủy ban Trao đổi Văn hóa Giáo dục Quốc tế CIEE.

Chất lượng đào tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Đội ngũ giảng viên[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến hết năm 2016, trường có 158 giảng viên. Trong đó có 4 giáo sư và 17 phó giáo sư.[15]

Chất lượng đầu ra thực tế[sửa | sửa mã nguồn]

Chất lượng đầu ra thực tế tính theo các ngành có thời gian tốt nghiệp vào năm 2016[16][17]
Cấp bậc đào tạo Số lượng tốt nghiệp đúng hạn Tỉ lệ người học thu nhập trên 10 triệu VNĐ Tỉ lệ có việc làm sau khi ra trường 1 năm
Đại học 623 người 7,9% 95% (bao gồm 4,5% sinh viên khởi nghiệp)
Thạc sĩ Trường công bố thiếu số liệu 100% 100%
Tiến sĩ 100% 100%

* Tỉ lệ sinh viên có việc làm trong vòng một năm sau khi ra trường đã bao gồm số lượng người ra trường có khởi nghiệp thành lập doanh nghiệp, không bao gồm ngộ nhận khởi nghiệp như đa cấp.[18]

* Thống kê không dành cho bậc đào tạo thấp như cao đẳng với trung cấp, nên không thể nội suy chất lượng đào tạo ở hai hệ đào tạo này.

Ban Giám hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiệm kỳ Hiệu trưởng Hiệu phó
2003-2007 GS.TSKH. Phan Quốc Khánh
  • PGS.TS. Hồ Thanh Phong
  • PGS.TS. Chu Quốc Thắng
  • TS. Bùi Quốc Định
2007-2012 PGS.TS. Hồ Thanh Phong
  • PGS.TS. Chu Quốc Thắng
  • TS. Trương Quang Được
  • ThS. Trần Tiến Khoa
2012-nay
  • TS. Nguyễn Văn Chung
  • TS. Hồ Nhựt Quang
  • TS. Trần Tiến Khoa

Cơ sở[sửa | sửa mã nguồn]

Cơ sở chính của trường được đặt tại Làng Đại học của Đại học Quốc gia, điạ chỉ khu phố 6, phường Linh Trung, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Các cơ sở khác của trường:

  • Cơ sở 234 Pastuer, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh
  • Tầng trệt Thư viện Trung tâm Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

Đào tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện nay trường đã thực hiện các chương trình đào tạo bậc đại học với các hình thức: đào tạo trong nước và cấp bằng do chính trường công nhận, đào tạo liên kết và cấp bằng do trường đối tác công nhận, đào tạo liên kết và cấp bằng do chính trường và trường đối tác cùng công nhận. Các công dân nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam sẽ nộp đơn xét tuyển cùng sự chứng minh về khả năng Anh ngữ để theo học tập tại trường.

Tất cả các môn học tại trường đều được thực hiện bằng ngôn ngữ chính thức là tiếng Anh. Tuy nhiên, một số môn học đặc biệt theo yêu cầu của quy chế đào tạo Đại học Việt Nam như các môn về chính trị (các nguyên lý chủ nghĩa Marx-Lenine, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Đường lối cách mạng Đảng Cộng sản Việt Nam), giáo dục quốc phòng và giáo dục thể chất sẽ được thực hiện bằng tiếng Việt và chỉ được áp dụng giảng dạy cho hình thức đào tạo trong nước do chính trường Đại học Quốc tế cấp bằng tốt nghiệp.

Trường hiện đang có 4 khoa và 6 bộ môn trực thuộc. Đó là các khoa Quản trị kinh doanh, khoa Khoa học và Kĩ thuật Máy tính, khoa Điện tử Viễn thông, khoa Công nghệ Sinh học, bộ môn Kỹ thuật Hệ thống Công nghiệp, bộ môn Kỹ thuật Xây dựng, bộ môn Kỹ thuật Y sinh, bộ môn Toán, bộ môn Anh ngữ và bộ môn Vật lý.

Khoa Quản trị kinh doanh - School of Business (BA)[sửa | sửa mã nguồn]

Khoa Quản trị kinh doanh là một trong những khoa được thành lập đầu tiên, và luôn có số lượng sinh viên nhiều nhất trường. Năm 2012, khoa đạt chuẩn kiểm định của Hệ thống Đại học ASEAN (AUN). Trưởng khoa hiện nay là TS. Nguyễn Văn Phương. Các chuyên ngành được đào tạo bao gồm:

  • Quản trị Kinh doanh (Business Administration), với các chuyên ngành:
    • Quản trị Doanh nghiệp (Business Management)
    • Marketing
    • Quản trị Du lịch - Khách sạn (Hospitality - Tourism Management)
    • Kinh doanh Quốc tế (International Business)
  • Tài chính - Ngân hàng (Finance and Banking), với các chuyên ngành:
    • Tài chính Doanh nghiệp (Corporate Finance)
    • Ngân hàng và Đầu tư tài chính (Banking and Financial Investment)

Các giảng viên cơ hữu cũng như thỉnh giảng của khoa Quản trị kinh doanh đều là những người có nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy kinh doanh bằng tiếng Anh, hay có nhiều kinh nghiệm làm việc trong các công ty trong và ngoài nước. Các giảng viên có thể sử dụng Anh ngữ như ngôn ngữ thứ hai và có trình độ tối thiểu thạc sĩ.

Khoa Công nghệ Thông tin - School of Computer Science & Engineering (CSE)[sửa | sửa mã nguồn]

Khoa Công nghệ Thông tin là một trong hai khoa đầu tiên của trường. Trưởng khoa là PGS. TS. Trần Mạnh Hà. Các chuyên ngành đào tạo trong khoa bao gồm:

Khoa được Hệ thống Đại học ASEAN (AUN) đánh giá đạt chuẩn kiểm định chất lượng[19].

Khoa Điện tử Viễn thông - School of Electrical Engineering (EE)[sửa | sửa mã nguồn]

Trưởng khoa là ThS. Trần Văn Sư. Khoa đào tạo các ngành

  • Điện tử - Viễn thông, với các chuyên ngành:
    • Điện tử và hệ thống nhúng (Electronics and Embedded Systems)
    • Hệ thống viễn thông (Telecommunication Networks)
    • Xử lý tín hiệu (Signal Processing)
    • Thiết kế vi mạch siêu cao tần (RF Design)
  • Tự động hoá và điều khiển (Automation and Control Engineering) với các chuyên ngành:
    • Đo lường và điều khiển bằng máy tính hoặc vi điều khiển.
    • Thiết kế và vận hành dây chuyền tự động hóa xí nghiệp.

Khoa Công nghệ Sinh học - School of BioTechnology (BT)[sửa | sửa mã nguồn]

Trưởng khoa là PGS. TS. Nguyễn Văn Thuận. Các chuyên ngành được đào tạo trong khoa bao gồm:

  • Công nghệ sinh học (BioTechnology) với năm hướng:
    • Y sinh (Biomedical Biotechnology)
    • Phân tử (Molecular Biotechnology)
    • Công nghiệp (Industrial Biotechnology)
    • Biển và Môi trường (Marine Biotechnology and Environment)
  • Công nghệ thực phẩm (Food Technology) với hai hướng:
    • Quản lý sản xuất (Management-Service)
    • Kĩ thuật công nghệ (Technology-Manufacture)
  • Quản lý Nguồn lợi Thủy sản (Aquatic Resource Management) với hai hướng:
    • Quản lý (Management)
    • Công nghệ (Technology)
  • Hoá sinh (Biochemistry)

Bộ môn Kỹ thuật Hệ thống Công nghiệp - Department of Industrial Systems Engineering (ISE)[sửa | sửa mã nguồn]

Trưởng bộ môn là PGS. TS. Hồ Thanh Phong. Bô môn đào tạo các ngành:

  • Kỹ thuật Hệ thống Công nghiệp (Industrial Systems Engineering).
  • Logistics và Quản lý chuỗi cung ứng (Logistics and Supply Chain Management)

Bộ môn Kỹ thuật Y sinh - Department of BioMedical Engineering (BME)[sửa | sửa mã nguồn]

Trưởng bộ môn là GS. Võ Văn Tới. Bộ môn đào tạo ngành Kỹ thuật Y sinh (BioMedical Engineering) với các hướng:

  • Thiết bị y tế (Medical Instrumentation)
  • Tín hiệu và hình ảnh y sinh (Biomedical Signal and Image Processing)
  • Kĩ thuật dược (Pharmaceutical Engineering)
  • Y học tái tạo (Regenerative Medicine)

Bộ môn Kỹ thuật Xây dựng - Department of Civil Engineering (CE)[sửa | sửa mã nguồn]

Trưởng bộ môn là PGS. TS. Chu Quốc Thắng. Bô môn đào tạo ngành Kỹ thuật Xây dựng (Civil Engineering).

Bộ môn Toán - Department of Mathematics[sửa | sửa mã nguồn]

Bô môn đào tạo ngành Toán ứng dụng (Applied Mathematics) với chuyên ngành Kĩ thuật Tài chính và Quản lý rủi ro (Financial Engineering and Risk Management). Trưởng bộ môn là PGS.TS. Nguyễn Định. Trong bộ môn Toán có sự đóng góp của GS.TSKH. Phan Quốc Khánh, GS.TSKH. Nguyễn Văn Thu, GS. Đinh Thế Lục, GS. Boris Mordukhovich, GS. Jean-Paul Penot.

Lĩnh vực nghiên cứu bao gồm tối ưu hoá (optimization), xác suất thống kê (probability & statistics), phương trình vi phân riêng phần (partial differential equations). Lĩnh vực giảng dạy bao gồm giải tích, toán rời rạc, xác suất thống kê, lý thuyết số, toán ứng dụng.

Bộ môn Vật Lý - Department of Physics[sửa | sửa mã nguồn]

Trưởng bộ môn là PGS. TS. Phan Bảo Ngọc. Bộ môn Vật lý đảm nhận việc giảng dạy toàn bộ chương trình Vật lý cơ bản cho tất cả các Khoa và Bộ môn của trường. Nghiên cứu khoa học tại Bộ môn gồm hai hướng chính: Vật lý Thiên văn (Galactic Astronomy) và Vật lý plasma (Plasma Physics).

Bộ môn Anh ngữ - Department of English[sửa | sửa mã nguồn]

Trưởng bộ môn là ThS. Nguyễn Hồng Đức. Bộ môn Anh chịu trách nhiệm đào tạo chương trình Anh ngữ theo chuẩn quốc tế cho tất cả sinh viên theo học tại trường. Nghiên cứu của Bô môn Anh tập trung vào việc phát triển và thực hiện các phương pháp giảng dạy mới để tăng tính hiệu quả học tập của sinh viên trong các khóa học giảng dạy hoàn toàn bằng tiếng Anh.

Đời sống sinh viên[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện tại số lượng sinh viên đang theo học tại trường là vào khoảng hơn 4.000 sinh viên. Ngoài số lượng sinh viên mang quốc tịch Việt Nam còn có sinh viên quốc tế cũng đăng ký học tập tại trường và các sinh viên quốc tế trong chương trình hợp tác trao đổi văn hoá với tổ chức CIEE.

Sinh viên học tập tại trường được đánh giá là năng động trong việc tham gia các hoạt động xã hội[20][21]

Tổ chức sinh viên[sửa | sửa mã nguồn]

Đoàn Thanh niên trường Đại học Quốc tế Thành phố Hồ Chí Minh là một tổ chức sinh viên chính thức được công nhận của nhà trường, được thành lập vào năm 2004. Các thành viên trong ban chấp hành Đoàn cơ sở ngoài lực lượng đoàn viên ưu tú làm nòng cốt còn có sự tham gia của cán bộ giảng viên trẻ của trường. Các thành viên trong ban chấp hành đều được chọn lựa qua hình thức bỏ phiếu và bắt buộc phải là đoàn viên theo điều lệ của tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. Các đơn vị trực thuộc Đoàn trường:

  • Ban Đối ngoại (External Relations Department - ERD)
  • Ban Tổ chức Sự kiện (Event Department)
  • Ban Thông tin (Information Department - InfoDEPT) có http://www.iucommunity.info là forum sinh viên do Ban Thông tin quản lý
  • Ban Khoa học - Công nghệ (Science and Technology Department)

Hội Sinh viên trường được thành lập vào năm 2009. Hội sinh viên quản lý các câu lạc bộ, đội, nhóm sinh hoạt ở những lãnh vực mà sinh viên yêu thích như thể thao, văn nghệ, học thuật, văn hoá:

  • Đội Enactus IU (tiền thân là SIFE IU)
  • Đội Công tác Xã hội (Social Work Team - SWT)
  • Đội Công tác Anh ngữ (English Teaching Volunteers - ETV)
  • Đội Văn nghệ Xung kích (Arteam)
  • Câu lạc bộ Kỹ năng (Soft Skills Club - SSC)
  • Câu lạc bộ Guitar (Guitar Club - GC)
  • Câu lạc bộ Tiếng Anh (English Club - IEC)
  • Câu lạc bộ Tiếng Pháp (French Club - FC)
  • Câu lạc bộ Thể thao (Sports Club -SC)
  • Câu lạc bộ Nhật Bản (Japan Club)
  • Câu lạc bộ Hàn Quốc (Korean Club - KYG)

Các câu lạc bộ trực thuộc các khoa, bộ môn:

  • Câu lạc bộ Giao dịch chứng khoán (Securities Exchange Club - SEC) (thuộc khoa Quản trị kinh doanh)
  • Câu lạc bộ Marketing (Marketing Club - Martic) (thuộc khoa Quản trị kinh doanh)
  • Câu lạc bộ Tin học (IT Club - ITC) (thuộc khoa Công nghệ thông tin)
  • English Speaking Club (thuộc bộ môn Tiếng Anh)

Các câu lạc bộ trực thuộc phòng Công Tác Sinh viên:

  • Help To Be Helped
  • Buddy Club
  • Team of Office of Student Affairs (TOSA)

Hội Cựu sinh viên được thành lập vào năm 2008.

Ký túc xá[sửa | sửa mã nguồn]

Sinh viên theo học tại trường có thể đăng ký nội trú tại các ký túc xá sau:

  • Ký túc xá Đại học Quốc tế (Khu nhà C - Trung tâm Giáo dục Quốc phòng Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh)
  • Ký túc xá Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
  • Nhà khách Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
  • Hai khu ký túc xá nằm trong nội đô thành phố (Quận 1): đường Phan Liêm và Lý Văn Phức.

Các ký túc xá đều được trang bị cơ sở vật chất hiện đại, có các hoạt động thể thao-văn hoá được tổ chức thường xuyên cho sinh viên tham gia.

Nghiên cứu khoa học[sửa | sửa mã nguồn]

Từ khi thành lập, Đại học Quốc tế đã thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao gồm nhiều giáo sư, tiến sĩ đầu ngành, có năng lực nghiên cứu xuất sắc và kinh nghiệm từ các trường đại học danh tiếng trên thế giới. Tỉ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ hiện nay chiếm hơn 60%. Trường có 24 nhóm nghiên cứu trong các lĩnh vực: Công nghệ Sinh học, Công nghệ Thông tin, Điện tử Viễn thông, Kỹ thuật Hệ thống Công nghiệp, Kỹ thuật Xây dựng, Kỹ thuật Y sinh, Toán, Vật lý, Kinh tế Tài chính – Toán ứng dụng và Ngôn ngữ.

Thành tựu[sửa | sửa mã nguồn]

  • Số lượng bài báo tạp chí quốc tế công bố trong năm 2016 tăng gấp 5 lần so với năm 2006.
  • Tỷ lệ tăng trưởng đề tài, dự án khoa học công nghệ thu hút từ ngoài trường năm 2016 tăng gần 7 lần về số lượng, tăng 75 lần về tổng kinh phí so với năm 2006.[22]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Công khai giáo dục 2014”. Truy cập 25/06/2015.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  2. ^ “Quy chế Quy hoạch kiến trúc ĐHQG TP.HCM” (PDF). Đại học Quốc gia TP.HCM. 28/05/2015. Truy cập 25/06/2015.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date=, |accessdate= (trợ giúp)
  3. ^ “2018 Vietnamese University Ranking”. 
  4. ^ “Giới thiệu về AUN”. 
  5. ^ “ASEAN+3 UNet Member Universities”. 
  6. ^ “Giới thiệu”. 
  7. ^ Việt Nam hiện có Đại học RMIT Việt Nam sử dụng tiếng Anh làm ngôn ngữ giảng dạy chính thức nhưng đó là Đại học tư thục
  8. ^ Dựa theo website chính thức của trường, có thể tham khảo tại “Tầm nhìn và Sứ mạng Đại học Quốc tế”. 
  9. ^ “Tầm nhìn và sứ mạng”. 
  10. ^ “Đại học Quốc tế khánh thành các phòng thí nghiệm hiện đại”. 
  11. ^ “Trường Đại học Quốc tế TP Hồ Chí Minh khởi công xây dựng khối lớp học, phòng thí nghiệm”. 
  12. ^ “Lễ công bố quyết định bổ nhiệm hiệu trưởng trường ĐH Quốc tế TP Hồ Chí Minh”. 
  13. ^ “2 ngành mới của Đại học Quốc tế”. 
  14. ^ “Đại học Quốc tế hợp tác với Đại học New South Wales”. 
  15. ^ “Công khai thông tin về đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý và nhân viên của Trường Đại học Quốc tế, năm học 2015-2016”. 
  16. ^ “Báo cáo công khai năm học 2016 - 2017” (PDF). 
  17. ^ “CÔNG KHAI GIÁO DỤC”. 
  18. ^ “Người Việt đang “mê” đa cấp thay vì “say” khởi nghiệp!?”"Có một sự liên hệ mật thiết giữa kinh doanh đa cấp và khởi nghiệp, nhưng nếu so sánh về giá trị cho xã hội mà khởi nghiệp và đa cấp tạo ra, chúng ta có thể thấy rõ sự khập khiễng này." 
  19. ^ “Bốn ngành học đạt chuẩn ASEAN”. 
  20. ^ “Chàng sinh viên chạy bộ Sài Gòn - Hà Nội”. 
  21. ^ “Đọ sức anh tài marketing”. 
  22. ^ “Nghiên cứu Khoa học”. 

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]