Trường Đại học Sư phạm Huế

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Đại học Sư phạm Huế
Cồn Hến.jpg
Địa điểm Tòa Khâm sứ Trung Kỳ bên bờ sông Hương, nay là Trường Đại học Sư phạm Huế
Tên cũTòa Khâm sứ Trung Kỳ
Thông tin chung
Loại hìnhĐại học công lập
Thành lập27 tháng 10, 1976; 42 năm trước[1]
Thành viên củaĐại học Huế, trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo
Tổ chức và quản lý
Hiệu trưởngNguyễn Thám
Giảng viên270 người
Thông tin khác
Địa chỉ34 Lê Lợi
Vị tríHuế, Thừa Thiên - Huế, Việt Nam
Cổng trường ĐHSP Huế nhìn từ đường Lê Lợi

Trường Đại học Sư phạm Huế là trường đại học đứng đầu về đào tạo và nghiên cứu khối ngành sư phạm tại miền Trung Việt Nam. Trường trực thuộc Đại học Huế. Trường có địa chỉ tại số 34 đường Lê Lợi, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên - Huế.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trụ sở của trường trước đây là Toà Khâm sứ Trung Kỳ được khởi công xây dựng vào mùa hạ, tháng 4 năm 1876 (Tự Đức 28), và hoàn thành vào tháng 7 năm 1878. Sau khi xây dựng và đặt xong bộ máy cai trị, Toà Khâm sứ Trung kỳ trở thành thủ phủ của chế độ thực dân Pháp ở Trung kỳ, chi phối toàn bộ hoạt động của nhà nước phong kiến triều Nguyễn. Tháng 3 năm 1957 dưới thời Đệ Nhất Cộng hòa Tổng thống Ngô Đình Diệm ký sắc lệnh thành lập Viện Đại học Huế gồm 5 phân khoa đại học: Sư phạm, Văn khoa, Luật khoa, Hán học, và Khoa học. Trong niên khóa đầu có 358 sinh viên. đến năm 1960 thì sĩ số tăng lên 1431 sinh viên; năm 1959 mở thêm chương trình dự bị y khoa. Sau khi thống nhất đất nước, trường Đại học Sư phạm Huế được chính thức thành lập vào ngày 27 tháng 10 năm 1976.[1] Năm 1994, thủ tướng Võ Văn Kiệt quyết định chuyển trường Đại học Sư phạm Huế sang trực thuộc Đại học Huế.[2]

Đội ngũ cán bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Hiệu Trưởng: PGS.TS. Nguyễn Thám

Các Phó Hiệu Trưởng:

  • PGS.TS. Nguyễn Văn Thuận, Bí thư Đảng ủy
  • PGS.TS. Nguyễn Đình Luyện, Phó Bí thư Đảng ủy
  • TS. Lê Anh Phương, Phó Bí thư Đảng ủy
  • Trường có 411 cán bộ, trong đó có 270 giảng viên: 28 phó giáo sư, 85 tiến sĩ và tiến sĩ khoa học, 171 thạc sĩ, 102 giảng viên chính và 03 chuyên viên chính..

Hiệu trưởng qua các nhiệm kỳ:[sửa | sửa mã nguồn]

  • NGƯT-TS. Nguyễn Xuân Tuyến
  • PGS.TS. Lê Công Triêm (1997-2002)
  • PGS-TS. Lê Văn Anh (2002-2009)
  • PGS.TS. Nguyễn Thám (2009-2016)

Quy mô đào tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Từ năm 1976 đến nay, trường đã đào tạo hơn 45.000 cử nhân khoa học sư phạm các hệ, trên 1.200 thạc sĩ; bồi dưỡng thường xuyên hơn 74.000 lượt cho giáo viên THPT các thuộc tính thuộc khu vực miền Trung, Tây Nguyên và đồng bằng sông Cửu Long.

  • Đào tạo 17 chuyên ngành trình độ cử nhân.
  • Đào tạo 27 chuyên ngành trình độ Thạc sĩ.
  • Đào tạo 6 chuyên ngành trình độ Tiến sĩ.

Trường đã thực hiện chuyển đổi phương thức đào tạo niên chế sang phương thức đào tạo tín chỉ và chính thức áp dụng từ khóa tuyển sinh năm 2008. Trường là một trong 20 trường Đại học đầu tiên của ngành giáo dục đào tạo tham gia chương trình kiểm định chất lượng giáo dục và được Bộ Giáo dục và Đào tạo đánh giá đạt tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục Đại học.

Trong 5 năm trở lại đây trường đã và đang thực hiện 33 đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước, 124 đề tài cấp Bộ, 244 đề tài cấp trường, 234 đề tài cấp Khoa, 01 Dự án hợp tác với nước ngoài.

Quan hệ quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Trường thiết lập được quan hệ và ký thỏa thuận hợp tác với các trường Đại học, viện nghiên cứu và các tổ chức sau đây:

  • Anh: Đại sứ quán Anh tại Việt Nam, Hội đồng Anh (Bristish Council)
  • Đức: Tổ chức DAAD, KAAD
  • Hoa Kỳ: Tổ chức những người tình nguyện ở châu Á (VIA), Đại học Pacific, hệ thống Đại học bang Oregon, Ủy ban liên hiệp Thiên chúa giáo tại châu Á (United Board)
  • Nhật Bản: Hội văn hóa Nhật - Việt, Đại sứ quán Nhật tại Việt Nam, Viện đào tạo giáo viên Grenoble, Viện đào tạo giáo viên Créteil, AUPELF-UREF, AUF
  • Phần Lan: Tổ chức nghiên cứu giáo dục hướng nghiệp (FIVER/VIETVOC) Phần Lan
  • Thái Lan: Đại học Kean, Viện Đại học Hoàng gia Sua-Dusit, Sakhon-Nakhon
  • Trung Quốc: Học viện sư phạm Quảng tây, Học viện dân tộc Quảng Tây, Đại học Quảng Tây, Đại học sư phạm Quảng Tây, Đại học An Huy
  • Úc: Tổ chức giáo viên tình nguyện quốc tế (AVI)

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Quyết định số 426/TTg của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam ngày 27 tháng 10 năm 1976.
  2. ^ Nghị định số 30/CP ngày 4 tháng 4 năm 1994 của Thủ tướng chính phủ

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]