Trường Hạ sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng hòa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trường Hạ sĩ quan
Việt Nam Cộng hòa
Flag of Dong De Military School.svg
Kỳ hiệu
Hoạt động 1951-1975
Quốc gia Flag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
Phục vụ Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Quân chủng Quân trường
Phân loại Khóa sinh Hạ sĩ quan, Sĩ quan
Bộ phận của [[ ]] Tổng cục Quân huấn
ARVN Joint General Staff Insignia.svg Bộ Tổng Tham mưu
Tên khác Lò luyện thép
Khẩu hiệu Luyện tập để thắng
Các tư lệnh
Chỉ huy
nổi tiếng
-Đỗ Cao Trí
-Lâm Quang Thơ
-Linh Quang Viên
-Võ Văn Cảnh
-Dư Quốc Đống
-Phạm Quốc Thuần

Trường Hạ sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng hòa, theo "hệ thống quân giai" trực thuộc Tổng cục Quân huấn trong hệ thống điều hành tổng quát của Bộ Tổng tham mưu. Còn được gọi là Quân trường Đồng Đế. Là một trong những Quân trường bề thế, quy mô nhất Đông Nam Á và nổi tiếng là Lò luyện thép bởi tính chất huấn luyện kỹ lưỡng và kỷ luật cứng rắn tuyệt đối.

Lịch sử hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1951, thời kỳ Quốc gia Việt Nam (hình thành năm 1948) và Quân đội Quốc gia Việt Nam (hình thành năm 1950). Trường được thành lập tại Vạt Cháy (Bãi Cháy) thuộc Tỉnh Quảng Yên, Bắc Việt (Nay là một phường thuộc Thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh). Ban đầu với nhiệm vụ huấn luyện Biệt động đội và lấy tên là Trường Biệt động đội.

Tháng 8 năm 1954, sau ngày đình chiến (Hiệp định Genève 20 tháng 7), trường di chuyển vào Suối Dầu, Nha Trang hợp nhất với trường huấn luyện quân sự Địa phương số 4 với nhiệm vụ huấn luyện lớp CC1 và CC2 ngành bộ binh.

Giữa năm 1955, Trường di chuyển về Phú Xương, Đồng Đế, Nha Trang với danh hiệu Trường Biệt động đội và Thể dục.

Đầu năm 1957, Trường chính thức mang tên Trường Hạ sĩ quan Quân đội Việt Nam Cộng hòa (Sau là Trường Hạ sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng hòa).

Học trình[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thời gian từ năm 1955 đến năm 1958, trường đảm nhiệm huấn luyện các khóa:
-Biệt động đội
- Thám báo
- Phản Du kích
- Thể dục quân sự
- Quyền thuật và Nhu đạo
- Quân y Dược sĩ
- Liên đoàn Đặc biệt

Nhiệm vụ của Trường Hạ sĩ quan từ năm 1959 tới năm 1963 huấn luyện:
-Bốn khóa sĩ quan Đặc biệt Hiện dịch.[1]
-Các khóa đào tạo hạ sĩ quan trừ bị.[2]
-Các khóa hạ sĩ quan Đặc biệt.[3].

Riêng các khóa hạ sĩ quan trừ bị là mục tiêu đào tạo chính của trường, nên năm nào cũng có ít nhất 4 khóa khai giảng và nhập học, có năm lên tới 7 khóa. Có những năm Tổng cục Quân huấn phải đào tạo tại các Quân trường Quang Trung và Quân trường Lam Sơn.[4]

Kể từ năm 1968, Trường Hạ sĩ quan nhận huấn luyện các khóa sĩ quan trừ bị, phụ lực với trường Sĩ quan Thủ Đức.[5]

Ngoài ra, trường còn nhận huấn luyện đào tạo các lớp quân sự khác (không những đối với các thí sinh trong nước, mà còn nhận cả những thí sinh từ các nước bạn Lào và Cao Miên) do Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Quân huấn giao phó.

Trường Hạ sĩ quan đã liên tục huấn luyện các khoá học như đã kể trên cho đến tháng 4 năm 1975, trường đã đào tạo được 120.000 hạ sĩ quan, hơn 8.000 sĩ quan hiện dịch và 12.000 sĩ quan trừ bị cùng nhiều khóa huấn luyện quân sự cho Học viện Quốc gia Hành chánh.[6]

Chỉ huy trưởng qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

TT Họ và Tên Cấp bậc Tại chức Chú thích
1
Lê Cầm
Thiếu tá[7]
1955-1956
Chỉ huy trưởng đầu tiên. Tiếp thu Quân trường từ Quân đội Pháp. Sau giải ngũ ở cấp Trung tá
2
Trần Vĩnh Đắc
Đại tá
1956-1957
Sau biệt phái sang làm Tổng giám đốc Cảnh sát Quốc gia
3
Nguyễn Thế Như
Võ bị Liên quân
Viễn Đông Đà Lạt K1[8]
nt
1957-1959
Giải ngũ cùng cấp
4
Đoàn Văn Quảng
Võ bị Lục quân Pháp
Trung tá
1959
Sau là Thiếu tướng Tham mưu phó tại Bộ Tổng tham mưu
5
Đặng Văn Sơn[9]
Trường Hạ sĩ quan Pháp
Đại tá
1959-1961
Giải ngũ ở cấp Đại tá
6
Đỗ Cao Trí
Sĩ quan Nước Ngọt
Vũng Tàu
(Võ bị Liên quân Viễn Đông K2)
Đại tá
1961-1962
Năm 1971, tử nạn trực thăng khi đang là Trung tướng Tư lệnh Quân đoàn III. Được truy thăng Đại tướng
7
Nguyễn Văn Kiểm
Võ bị Liên quân
Viễn Đông Đà Lạt K1
Đại tá
1962-1964
Năm 1969, tử thương ở cấp Thiếu tướng do đặc công địch đánh bom sát hại
8
Nguyễn Vĩnh Xuân[10]
Sĩ quan Thủ Đức K1
Trung tá
Đầu năm 1964
Giải ngũ ở cấp Đại tá
9
Nguyễn Văn Là
Võ bị Tông Sơn Tây
Thiếu tướng
1964-1966
Giải ngũ năm 1974 ở cấp Trung tướng
10
Lâm Quang Thơ
Võ bị Đà Lạt K3
Đại tá
1966-1967
Chỉ huy trưởng sau cùng Trường Võ bị Quốc gia Việt Nam ở cấp Thiếu tướng
11
Phạm Văn Liễu[11]
Võ bị Lục quân
Chapa, Yên bái
(Trần Quốc Tuấn)
Đại tá
1966-1967
Nguyên Tổng giám đốc Cảnh sát Quốc gia. Sau giải ngũ cùng cấp
12
Lê Văn Nhật[12]
Võ bị Địa phương
Trung Việt Huế K1
Đại tá
1967-1969
Giải ngũ cùng cấp
13
Linh Quang Viên
Võ bị Tông Sơn Tây
Trung tướng
1969-1972
Giải ngũ năm 1973, được cử đi làm Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Cộng hòa Trung Phi và Cộng hòa Tchad
14
Võ Văn Cảnh
Võ bị Địa phương
Trung Việt
(Trường Sĩ quan Đập Đá, Huế)
Chuẩn tướng
1972-1973
Sau là Thiếu tướng
15
Dư Quốc Đống
Võ bị Đà Lạt K5
Trung tướng
1973-1974
Sau phục vụ tại Bộ Tổng tham mưu
16
Phạm Quốc Thuần
Võ bị Đà Lạt K5
Trung tướng
1974-tháng 4/1975
Chỉ huy trưởng cuối cùng

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Khóa sinh là những hạ sĩ quan xuất thân từ trường Thiếu sinh quân, những hạ sĩ quan xuất sắc hoặc thâm niên trong quân đội. Tốt nghiệp được mang cấp bậc Chuẩn úy.
  2. ^ Khoá sinh là những thanh niên dân chính đến tuổi động viên quân dịch có văn bằng phổ thông từ Trung học Đệ nhất cấp trở lên hoặc chứng chỉ tương đương. Trong đó còn đào tạo những khóa sinh từ trường Thiếu sinh quân không theo được Trung học Đệ nhị cấp, trở thành những hạ sĩ quan trừ bị hoặc hiện dịch. Tốt nghiệp được mang cấp bậc Trung sĩ.
  3. ^ Khóa sinh là những quân nhân thuộc "hàng binh sĩ" (Hàng Binh sĩ trong Quân lực VNCH được tính từ cấp bậc Binh nhì đến Hạ sĩ nhất), đã có cấp bậc Hạ sĩ, Hạ sĩ nhất và là quân nhân xuất sắc hoặc thâm niên trong quân đội. Tốt nghiệp được mang cấp bậc Trung sĩ
  4. ^ Hai Quân trường cấp Quốc gia này chuyên Huấn luyện và đào tạo tân binh hàng Binh sĩ cho Quân lực VNCH. Quân trường Quang Trung của Quân khu 3 và Quân trường Lam Sơn của Quân khu 2.
  5. ^ Khóa sinh là những học sinh hoặc sinh viên khi trình diện nhập ngũ phải có văn bằng từ Tú tài phần I trở lên hoặc chứng chỉ tương đương.
  6. ^ -Trường Hạ sĩ quan Quân lực VNCH đã tổ chức các khóa học như sau:
    -Tên khóa học được đặt theo số thứ tự trên năm.
    -Thí dụ:
    - Các khóa học của năm 1968 được đặt tên: Khóa 1/68 cho đến khóa cuối của năm. Sang năm 1969 trở lại từ khóa 1/69...
    -Tên và bảng màu (tượng trưng) cho từng Tiểu đoàn khóa sinh:
    1- Tiểu đoàn Trần Hưng Đạo (Màu nâu)
    2- Tiểu đoàn Đinh Tiên Hoàng (Màu xanh ngọc)
    3 -Tiểu đoàn Lý Thường Kiệt (Màu vàng)
    4- Tiểu đoàn Lê Lợi (Màu xanh dương)
    5- Tiểu đoàn Phan Đình Phùng (Màu xanh lá mạ)
    6- Tiểu đoàn Quang Trung (Màu đỏ)
    -Đại đội khóa sinh:
    -Mỗi khóa học khi khai giảng, tùy vào số khóa sinh nhiều hay ít, có thể tập hợp thành Tiểu đoàn từ 2 đến 5 Đại đội (mỗi Đại đội từ 100 đến 120 khóa sinh). Tên của Đại đội được đặt theo số thứ tự từ hàng đơn vị cho đến hàng chục, hàng trăm. Thí dụ: Đại đội 707, Tiểu đoàn Phan Đình Phùng thuộc khóa 3/72
    -Kể từ năm đầu tiên cho đến năm 1975, Trường Hạ sĩ quan đã huấn luyện và đào tạo được hơn 800 Đại đội
  7. ^ Cấp bậc khi nhậm chức
  8. ^ Xuất thân từ Trường Sĩ quan
  9. ^ Sinh năm 1916 tại Huế
  10. ^ Sinh năm 1927 tại Gia Định
  11. ^ Sinh năm 1927 tại Nam Định
  12. ^ Sinh năm 1928 tại Hà Nam

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.