Trường Trung học phổ thông chuyên Trần Phú, Hải Phòng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Trường Trung học phổ thông chuyên Trần Phú
Tran Phu high school in Hai Phong.jpg
Địa chỉ
Lô 10A KĐT Lê Hồng Phong, Phường Đằng Hải
,
Quận Hải An
,
Thành phố Hải Phòng
,
Thông tin
Tên khácTrường Phổ thông Năng khiếu Trần Phú (tên đầu tiên)
LoạiTrung học Phổ thông Chuyên
Thành lập1986
Cơ quan quản lýSở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hải Phòng
Hiệu trưởngTS.Toán Học Đoàn Thái Sơn
Giáo viên137 (Năm học 2021-2022)
Số học sinh~2020
Websitehttp://ctp.edu.vn/
Tổ chức và quản lý
Phó hiệu trưởngPhạm Thị Mai Anh

Nguyễn Thị Ngà

Nguyễn Thúy Nga

Trường Trung học phổ thông chuyên Trần Phú là ngôi trường trung học phổ thông chuyên duy nhất ở Hải Phòng. Trường được thành lập vào tháng 1 năm 1986.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trường THPT Chuyên Trần Phú được thành lập chính thức vào tháng 1 năm 1986. Ban đầu gồm hệ các lớp chuyên được đào tạo tại trường THPT Thái Phiên và Trường Trung học phổ thông Ngô Quyền, Hải Phòng. Đến tháng 1 năm 1986 thì chuyển về trường Trần Phú và thành lập trường. Hiệu trưởng đầu tiên là cô Trần Mai Hương. Hiệu phó là thầy Tiển Nhĩ Phúc và thầy Đỗ Thế Hùng.[1]

Buổi đầu đi vào hoạt động đào tạo học sinh năng khiếu với 4 lớp chuyên chuyển từ trường Thái Phiên và Ngô Quyền về: Toán, , Văn, Nga văn

Kỳ thi đầu vào được tổ chức với ba môn toán điều kiện, văn điều kiện và một môn chuyên. 30 học sinh một lớp chuyên.

Năm 1986 mới có hai dãy phòng học A,B từ trường Đoàn Kết trước đó. Năm 1999 nhà trường xây dựng thêm khu A2 và bắt đầu mở lớp Song ngữ đào tạo tiếng Pháp và tiếng Việt cùng 2 lớp chọn Toán (sau này là 2 lớp chọn tự nhiên). Năm 2000 khu B2 được xây dựng nâng tổng số dãy lên con số bốn trong một diện tích 0,8 hecta.

Năm 2002 mở thêm lớp chọn xã hội 30 học sinh và 2 lớp chọn tự nhiên mỗi lớp 45 học sinh và lớp Chuyên Trung 35 học sinh.

Ngày 4 tháng 9 năm 2004, trường vinh dự đón chủ tịch nước Trần Đức Lương về dự lễ khai giảng năm học mới.

Năm 2004 đón nhận danh hiệu Anh hùng lao động thời kì đổi mới.

Năm 2006, trường xây thêm dãy hội trường và ban giám hiệu, sửa lại cổng và sân trường.

Ngày 19 tháng 11 năm 2006, nhà trường kỷ niệm 20 năm thành lập trường và đón nhận danh hiệu Huân chương lao động hạng Nhất.[2]

Năm học 2016 - 2017, nhà trường bắt đầu tuyển sinh lớp chuyên tiếng Nhật với chỉ tiêu 35 học sinh.

Năm học 2019 - 2020, nhà trường bắt đầu tuyển sinh khối chuyên Sử và chuyên Địa với chỉ tiêu mỗi lớp 35 học sinh.

Năm học 2021 - 2022, nhà trường bắt đầu tuyển sinh lớp chuyên tiếng Hàn Quốc với chỉ tiêu 35 học sinh.

Mô hình giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Cơ cấu tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Trường được tổ chức với mô hình ban giám hiệu điều hành và quản lý chung, bao gồm:

  • Hiệu trưởng: TS. Đoàn Thái Sơn
  • Phó Hiệu trưởng: Cô Phạm Thị Mai Anh
  • Phó Hiệu trưởng: Cô Nguyễn Thị Ngà
  • Phó Hiệu trưởng: Cô Nguyễn Thuý Nga

Hệ thống giáo viên của trường được chia làm 7 tổ chuyên môn:

  • Tổ Văn phòng. Tổ trưởng: Cô Nguyễn Thị Thúy Hằng
  • Tổ Toán - Tin. Tổ trưởng: Thầy Lê Đức Thịnh
  • Tổ Vật lý - Kĩ thuật. Tổ trưởng: Thầy Vũ Thế Tiến
  • Tổ Hóa học - Sinh học - Thể dục. Tổ trưởng: Cô Nguyễn Thị Thanh Thúy
  • Tổ Ngữ văn. Tổ trưởng: Cô Ngô Thị Bích Hương
  • Tổ Sử - Địa. Tổ trưởng: Cô Nguyễn Thị Cẩm Diệu
  • Tổ Ngoại ngữ. Tổ trưởng: Cô Phạm Thị Mai Anh

Ngoài ra, trường còn có Đảng ủy, Công đoàn giáo viên và Đoàn Thanh niên.

Cấu trúc đào tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Trường bao gồm hệ chuyên và hệ không chuyên.

Hệ chuyên[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ chuyên gồm 15 khối, mỗi lớp gồm 35 học sinh:

  • Khối chuyên Toán
  • Khối chuyên Tin
  • Khối chuyên
  • Khối chuyên Hóa
  • Khối chuyên Sinh
  • Khối chuyên Văn
  • Khối chuyên Anh: Gồm chuyên Anh 1 và chuyên Anh 2
  • Khối chuyên Nga
  • Khối chuyên Pháp
  • Khối chuyên Trung
  • Khối chuyên Nhật
  • Khối chuyên Sử
  • Khối chuyên Địa
  • Khối chuyên Hàn.

Trong các hệ chuyên, ngoài việc học các môn học chính, học sinh sẽ được dạy tăng cường (số tiết, khối lượng kiến thức nhiều hơn so với các lớp còn lại) các môn Chuyên trong các lớp Chuyên thuộc khối Trung học phổ thông. Các học sinh chuyên có thành tích nổi bật sẽ được đưa vào đội tuyển học sinh giỏi và được đầu tư học môn chuyên để tham dự các kỳ thi học sinh giỏi cấp quốc gia và quốc tế.

Hệ không chuyên[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ không chuyên gồm 4 khối, mỗi khối gồm 45 học sinh:

  • Khối Tự nhiên: Gồm Tự nhiên 1 và Tự nhiên 2
  • Khối Xã hội
  • Khối Song ngữ.

Xét tuyển[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyện vọng[sửa | sửa mã nguồn]

Mỗi thí sinh được đăng ký không quá 2 môn chuyên (không trùng lịch thi).

Mỗi thí sinh được đăng ký xét tuyển vào các lớp chuyên và không chuyên, tối đa 5 nguyện vọng.

Lớp Song ngữ tuyển thẳng từ lớp Pháp của Trường Trung học cơ sở Hồng Bàng (Có bài kiểm tra đầu vào riêng của hệ song ngữ).

Các môn thi[sửa | sửa mã nguồn]

Các môn thi là Toán, Ngữ văn (chung với kì thi tuyển sinh vào lớp 10 của các trường THPT công lập), Tiếng Anh điều kiện (đề thi dành riêng cho thí sinh xét tuyển vào trường với mức độ yêu cầu cao hơn đề thi của các trường công lập) và môn chuyên.

Nguyên tắc xét tuyển[sửa | sửa mã nguồn]

Chỉ xét tuyển cho các thí sinh dự thi đủ số môn đã đăng kí, xét tuyển theo nguyên tắc lấy điểm từ cao xuống thấp cho đến khi đủ chỉ tiêu tuyển sinh. Điểm chuẩn cho các nguyện vọng là như nhau.

Điểm xét tuyển[3][sửa | sửa mã nguồn]

  • Lớp chuyên Toán, , Hóa, Sinh, Văn, Anh, Nhật, Sử, Địa: tổng điểm môn chuyên (hệ số 2) và các môn điều kiện (hệ số 1)
  • Lớp chuyên Tin: tổng điểm toán chuyên (hệ số 2) và các môn điều kiện (hệ số 1)
  • Lớp chuyên Nga, Pháp, Trung, Hàn: tổng điểm tiếng Anh chuyên (hệ số 2) và các môn điều kiện (hệ số 1)
  • Lớp không chuyên tự nhiên: điểm các môn điều kiện cộng với điểm 1 môn chuyên tự nhiên (Toán, , Hóa, Sinh) (tất cả hệ số 1) theo phương thức:
    • 45 học sinh lấy từ cao đến thấp những học sinh có điểm xét tuyển không chuyên tự nhiên (Toán). (chỉ xét với các thí sinh không đỗ chuyên Toán, Tin);
    • 15 học sinh lấy từ cao đến thấp những học sinh có điểm xét tuyển không chuyên tự nhiên (Vật lý);
    • 15 học sinh lấy từ cao đến thấp những học sinh có điểm xét tuyển không chuyên tự nhiên (Hóa học);
    • 15 học sinh lấy từ cao đến thấp những học sinh có điểm xét tuyển không chuyên tự nhiên (Sinh học);
    • Nếu học sinh có 02 điểm xét tuyển lớp không chuyên tự nhiên (theo các môn chuyên tương ứng) đủ điều kiện đỗ thì lấy điểm trúng tuyển không chuyên tự nhiên theo môn chuyên có điểm cao hơn.
    • Nếu học sinh có 02 điểm xét tuyển lớp không chuyên tự nhiên (theo các môn chuyên) bằng nhau đủ điều kiện đỗ thì điểm trúng tuyển sẽ căn cứ vào độ lệch giữa điểm xét tuyển và điểm chuẩn xét tuyển của môn chuyên tương ứng (Điểm xét tuyển không chuyên Tự nhiên của thí sinh - Điểm chuẩn xét tuyển không chuyên môn chuyên tương ứng), lấy độ lệch cao hơn để xét trúng tuyển vào không chuyên tự nhiên có môn chuyên tham gia vào thành phần tính điểm xét tuyển của thí sinh.
  • Lớp không chuyên xã hội: điểm các môn điều kiện cộng với điểm 1 môn chuyên xã hội (Văn, Sử, Địa) (tất cả hệ số 1) theo phương thức:
    • 25 học sinh lấy từ cao đến thấp những học sinh có điểm xét tuyển lớp không chuyên xã hội (Ngữ văn);
    • 10 học sinh lấy từ cao đến thấp những học sinh có điểm xét tuyển lớp không chuyên xã hội (Địa lí);
    • 10 học sinh lấy từ cao đến thấp những học sinh có điểm xét tuyển lớp không chuyên xã hội (Lịch sử);
    • Nếu học sinh có 02 điểm xét tuyển lớp không chuyên Xã hội (theo các môn chuyên) đủ điều kiện đỗ thì lấy điểm trúng tuyển không chuyên Xã hội theo môn chuyên xã hội có điểm cao hơn.
    • Nếu học sinh có 02 điểm xét tuyển lớp không chuyên Xã hội (theo các môn chuyên) bằng nhau, đủ điều kiện đỗ thì điểm trúng tuyển sẽ căn cứ vào độ lệch điểm xét tuyển và điểm chuẩn của môn chuyên tương ứng (Điểm xét tuyển không chuyên xã hội của thí sinh - Điểm chuẩn xét tuyển không chuyên môn chuyên tương ứng), lấy độ lệch cao hơn để xét trúng tuyển vào không chuyên xã hội có môn chuyên tham gia vào thành phần tính điểm xét tuyển.

Cơ sở vật chất[sửa | sửa mã nguồn]

Địa điểm cũ[sửa | sửa mã nguồn]

Từ khi thành lập đến nay, các thế hệ giáo viên và học sinh trường trung học phổ thông chuyên Trần Phú đã giảng dạy và học tập tại địa điểm số 12 Trần Phú, quận Ngô Quyền. Ngôi trường gồm 4 dãy phòng học A1, A2, B1 và B2; 1 dãy phòng đội tuyển, khu hiệu bộ, 1 nhà đa năng, 1 căng tin. Sân trường rộng và có 1 sân bóng rổ. Tuy được tu sửa nhiều lần, rất nhiều hạng mục đã xuống cấp nghiêm trọng và có nguy cơ sụp đổ.

Địa điểm mới[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện tại ngôi trường THPT chuyên Trần Phú ở trên đường Lê Hồng Phong, thuộc khu đô thị mới Ngã Năm - Cảng hàng không quốc tế Cát Bi. Ngôi trường mới là tổ hợp của nhiều hạng mục như phòng học, khu hiệu bộ, căng tin, nhà đa năng, sân bóng đá, bóng rổ, phòng thí nghiệm, v.v.. với thiết kế hiện đại, đẹp mắt, cách phối màu sắc ấn tượng. Kiến trúc của trường được xây dựng theo phong cách đặc biệt, vừa góc cạnh lại vừa lượn sóng, tạo ra tầm nhìn bao quát tối đa từ các hành lang, mang lại cảm giác rộng lớn cho học sinh. ngôi trường được sơn màu trắng kết hợp với những dải màu cam rực rỡ, tạo nền nhấn trên nền trời xanh, biểu tượng màu Thiên thanh của Chuyên Trần Phú. Hành lang lớp học được thiết kế trải dài tít tắp, trở nên vô tận trong ánh nắng mùa hè và thời khắc hoàng hôn, là địa điểm chụp ảnh lí tưởng của các bạn nhiếp ảnh gia trong trường. Sân trường có diện tích rộng lớn bậc nhất thành phố, được trồng nhiều hàng cây xanh và là địa điểm cho các buổi hoạt động ngoại khóa, chào cờ, cắm trại, Tết Trung thu, Halloween, team building,... Các phòng học đều có cơ sở vật chất hiện đại, gồm bàn ghế, quạt trần, máy lạnh, máy chiếu, cửa cách âm, tủ đồ cá nhân, hệ thống loa và camera từng lớp: ngoài ra còn có bình nước uống nóng lạnh, rèm che cửa, giá để giày dép.

Các câu lạc bộ trong nhà trường[sửa | sửa mã nguồn]

Trường THPT chuyên Trần Phú là một ngôi trường với nhiều hoạt động ngoại khóa với nhiều câu lạc bộ khác nhau hoạt động như:

Câu lạc bộ từ thiện[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tình nguyện Fire - Lửa yêu thương
  • Givology NKTP Hai Phong - Givology Vietnam
  • Inspire and Share

Nhóm nhảy[sửa | sửa mã nguồn]

  • D.I.L Crew
  • D.DIX Crew
  • 1004 Team
  • Cosmos Crew
  • The Silky Girls

Câu lạc bộ thể thao[sửa | sửa mã nguồn]

  • TPC Chess Academy
  • CLB Bóng Đá Chuyên Trần Phú
  • Chuyên Trần Phú Basketball Club
  • CLB Bóng chuyền TPC
  • CLB Cầu Lông THPT Chuyên Trần Phú
  • Herious - TPC Cheerleading Squad
  • CLB Đá Cầu TPC
  • Esports Club TPC - ECT

Khác[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ban Phát Thanh Học Đường Trường THPT Chuyên Trần Phú
  • TPC Media Club
  • TPC English Speaking Club
  • Kniverse - K니버스
  • Wabisabi - The Beauty of Imperfection
  • TDF - Tribu des francophiles - Club de Français de TPC
  • Huyễn - CLB Hán Ngữ TPC
  • Artaholic
  • LOGIA
  • CLB Sách và Hành động THPT Chuyên Trần Phú
  • ICM - Informatics Club TPC
  • Pinky Pigs Production

Thành tích[sửa | sửa mã nguồn]

Đường lên đỉnh Olympia:

  • 01 Giải Ba Chung Kết Năm năm thứ 8
  • 01 Giải Nhì tháng năm thứ 13
  • 01 Giải Ba tháng năm thứ 16
  • 01 Giải Ba quý năm thứ 20
  • 01 Giải Nhì tuần năm thứ 21
  • 01 Giải Ba Chung kết Năm năm thứ 22

Giải quốc tế: 33 giải (7 HCV, 11 HCB, 11HCĐ, 4 bằng khen)

Tính đến năm 2015, trường Chuyên Trần Phú đã đạt kỷ lục Việt Nam với 21 năm liên tiếp có học sinh tham dự các kỳ thi Olympic Quốc tế

(Xem thêm: Thành tích học sinh Việt Nam tại Olympic Toán, , Hóa, Tin Quốc tế.)

Giải quốc gia: tính tới năm 2009 xấp xỉ 900 giải. Năm học 2008-2009: 68 giải

Danh hiệu Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới

2 Huân chương Lao động cùng nhiều bằng khen, cờ thi đua xuất sắc.

Tỷ lệ học sinh đỗ tốt nghiệp: 99,99%, tốt nghiệp loại giỏi >70%

Tỷ lệ học sinh đỗ đại học: >90%[4]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Lịch sử trường THPT chuyên Trần Phú”.
  2. ^ “Kỷ niệm 20 năm thành lập trường”.
  3. ^ “Kế hoạch Tuyển sinh vào lớp 10 Trung học phổ thông năm học 2022-2023” (PDF). haiphong.edu.vn. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2022.
  4. ^ “Top 200 trường THPT có điểm thi ĐH cao nhất năm 2009”.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]