Trại cải tạo lao động của Liên Xô

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Trại cải tạo lao động của Liên Xô là hệ thống trại cải tạo bằng lao động, chịu sự quản lý của cơ quan chính phủ đặc biệt tên là Gulag (tiếng Nga: ГУЛаг, tr. GULag, IPA: [ɡʊˈlak]).[1]

GULag tên gọi tắt của Tổng cục Lao động cải tạo Liên Xô (Tiếng Nga: Главное управление исправительно-трудовых лагерей и колоний) của NKVD (Ủy ban Nhân dân Nội chính (Народный комиссариат внутренних дел, Narodnyy Komissariat Vnutrennikh Del), viết tắt là NKVD (НКВД) là các tổ chức cảnh sát công cộng và bí mật của Liên Xô trong thời đại của Joseph Stalin.).

Một bản đồ của các trại Gulag tồn tại giữa các năm 1923 và 1961, dựa trên dữ liệu từ các Hiệp hội Nhân quyền
Thống kê sơ lược số tù nhân Gulag từ năm 1934 đến 1953[2][3]

Hệ thống Gulag được chính thức thành lập ngày 25 tháng 4 năm 1930 và trên lý thuyết giải thể ngày 13 tháng 1 năm 1960.[4] Tại Liên Xô, việc sử dụng cụm từ "Gulag" để biểu thị hệ thống lao động cải tạo ở Liên Xô trong thời kỳ Stalin, ở đây giam giữ đủ mọi thành phần, từ tù chính trị cho đến tù dân sự (trộm cắp, lừa đảo, giết người...), mục đích là để tù nhân tham gia lao động nhằm cải tạo bản thân và tái hòa nhập xã hội, tức là cũng tương tự như hệ thống nhà tù ở phương Tây và nhiều nước khác hiện nay. Tuy nhiên, truyền thông phương Tây lại thường dùng Gulag để chỉ việc những công dân bất đồng chính kiến bị giam giữ cộng với lao động khổ sai[5], dẫn tới việc Gulag thường được hiểu ở phương Tây với hàm ý xấu (thực ra, mục đích giam giữ, điều kiện sống và các quy định của Gulag cũng không khác gì so với các trại giam phương Tây cùng thời kỳ, một số điểm thậm chí còn tốt hơn, ví dụ như trả lương cho lao động và cho phép giảm án nếu lao động chăm chỉ).

Nhiều nhà bất đồng chính kiến Liên Xô viết về sự tồn tại của hệ thống trại tù Gulag ngay cả sau khi nó được chính thức loan báo đóng cửa. Trong số người này, Anatoli Marchenko (1938-1986), mà chính ông đã chết trong một trại tù Gulag, qua những bài viết của ông cho thấy hệ thống tù gulag của Liên Xô đã không chấm dứt với cái chết của Joseph Stalin.[6] Có những lời xác nhận khác của Vladimir Bukovsky, Yuri Orlov, Nathan Shcharansky, những người được thả ra từ Gulag và được cho phép di cư sang phương Tây, sau những áp lực quốc tế đối với nhà cầm quyền Liên Xô kéo dài nhiều năm. Các nguồn khác thì cho rằng Gulag là không lớn và điều kiện sống của tù nhân cũng không khắc nghiệt như trong sách báo phương Tây thường mô tả[7] cũng như nó không hề có các hành vi sát hại hàng loạt tù nhân[8] mặc dù trong một số giai đoạn của thế chiến thứ hai, tỷ lệ tử vong trong các trại lao động tăng lên do thiếu thuốc men, điều kiện vệ sinh kém gây ra bệnh tật.[9]

Vào tháng 3 năm 1940, đã có 53 trại riêng biệt và 423 vùng cải tạo lao động tại Liên Xô. Ngày nay, các thành phố công nghiệp vùng Bắc Cực của Nga, như Norilsk, Vorkuta, và Magadan, ban đầu chính là các trại lao động được xây bởi những tù nhân và điều hành bởi các cựu tù nhân.[10]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Các hàng rào ở Gulag cũ tại Perm-36
Tù nhân lao động

Hệ thống trại tù thời Nga hoàng[sửa | sửa mã nguồn]

Ngay cả từ thời Nga hoàng các tù nhân chính trị và hình sự mà bị cho là nguy hiểm bị đày đi tới Siberia (Katorga). Chẳng hạn Lenin từ 1897 cho đến 1900 và Stalin từ 1913 đến 1917 bị dày đi tới vùng Krasnoyarsk. Trong những trại cải tạo này vào thập niên 1830 khoảng 8.000 người bị giam giữ, đến thập niên 1870 là khoảng 20.000 và bắt đầu thế kỷ 20 lên đến khoảng 30.000 người.

Trong 25 năm (1929-1953), khoảng 14 triệu người đã từng phải trải qua Gulag, với thêm 6 đến 7 triệu bị trục xuất và bị lưu đày đến vùng sâu vùng xa của Liên Xô.[11] Tuy nhiên, cần lưu ý là Gulag giam giữ phạm nhân đủ mọi thành phần, không chỉ tù chính trị mà còn cả tù dân sự (trộm cắp, lừa đảo, giết người...). Trung bình mỗi năm có khoảng 600.000 người ở trong các trại Gulag (cao điểm là vào năm 1937-38 đạt 1,7 triệu người), tức là khoảng 0,4% dân số Liên Xô. Tỷ lệ này thực tế là không cao, để so sánh, năm 1978, số người da đen ở Mỹ là 23 triệu người, trong đó khoảng 200.000 (khoảng 0,9%) đã bị tống giam[12], hoặc năm 2004 đã có 2.079.000 người Mỹ đang bị giam giữ do mọi nguyên nhân phạm tội, tỷ lệ là khoảng 0,7% dân số.

Theo một nghiên cứu không đầy đủ dữ liệu năm 1993 từ lưu trữ của Liên Xô, tổng cộng 1.053.829 người đã chết vì bệnh tật trong các Gulag trong suốt 20 năm (1934-1953)[7] Các dữ liệu hoàn thành đưa số người chết trong khoảng thời gian này lên 1.258.537, một số ước tính cho rằng đã có 1,6 triệu thương vong tính cả giai đoạn từ 1929 tới 1953.[13] Những ước tính này không tính những người đã chết sau khi được tha, nhưng bao gồm những cái chết được xem là kết quả của điều kiện sống khắc nghiệt trong các trại;[14][15] Tổng số tù nhân của các trại dao động từ 510.307 (năm 1934) đến 1.727.970 (năm 1953).[7]

Nếu chia bình quân thì trung bình mỗi năm, khoảng 60.000 tù nhân chết trong Gulag do mọi nguyên nhân. Nhưng cần lưu ý là trong thời kỳ Thế chiến thứ 2, tù nhân của Gulag tăng đột biến tỷ lệ chết trong giai đoạn 1941–43. Vào mùa đông 1941, khoảng 20% số tù nhân Gulag đã chết vì đói và lạnh, do lương thực và quần áo phải được chuyển bớt cho quân đội để chống Đức, khoảng 516.841 tù nhân chết trong các trại gulag trong giai đoạn 1941-43.[16], nhưng đó là tình cảnh khó khăn chung của Liên Xô khi ấy (hàng triệu dân thường Nga cũng chết vì đói rét trong 3 năm đó, do nông nghiệp Liên Xô bị quân Đức tàn phá). Nếu loại bỏ số tù nhân chết trong giai đoạn 1941-44 bởi nguyên nhân khách quan là chiến tranh, thì số tù nhân Gulag chết mỗi năm là khoảng 40.000 người, chiếm khoảng 3% số phạm nhân. So sánh với tỷ lệ tử vong trung bình của người dân nước Nga thời kỳ đó (khoảng 2 - 2,5% mỗi năm), thì tỷ lệ chết như vậy không cao hơn là bao. Tỷ lệ này cũng chỉ xấp xỉ tỷ lệ chết trong trại tù binh của Pháp năm 1940 (khoảng 2,58%) và kém rất xa tỷ lệ chết trong các trại tù binh của Đức trong thế chiến 2 (khoảng 30% mỗi năm). Điều này cho thấy đời sống trong các trại Gulag không khắc nghiệt như truyền thông phương Tây thường mô tả.

Vào cuối những năm 1940, do Liên Xô đã khôi phục được kinh tế đất nước, số người chết mỗi năm trong các trại Gulag vì nhiều lý do khác nhau là rất ít, không quá 15.000 người/năm, tỷ lệ chết không quá 1%[17]. Theo những câu chuyện tuyên truyền chống Liên Xô, đặc biệt là trong chiến tranh Lạnh, các trại lao động Xô viết được truyền thông phương Tây mô tả hầu hầu như giống như các trại tập trung của Hitler: "tù nhân bị hành hạ và chết như ruồi". Trong thực tế, ấn tượng này được tạo ra từ cuốn sách "Quần đảo Gulag" của Solzhenitsyn (một nhà văn bất đồng chính kiến với Nhà nước Liên Xô). Thực ra, các trại Gulag giống như một trại lao động tập thể, nơi phạm nhân lao động công ích 10 giờ mỗi ngày, và hoàn toàn không có chuyện tù nhân bị ép lao động đến chết. Điều đó được xác nhận bởi một số lượng rất lớn người Nga từng bị giam trong các Gulag[18]

Điều kiện sống ở các trại[sửa | sửa mã nguồn]

Điều kiện sống và làm việc trong các trại khác nhau đáng kể theo thời gian và địa điểm, trong đó tùy thuộc ảnh hưởng của các sự kiện lớn như (Thế chiến II, nạn đói và sự thiếu hụt trên toàn quốc, bất ngờ nhập hay thả số lượng lớn các tù nhân... Tù nhân tại các trại có điều kiện khó khăn thường phải đối mặt với tình trạng quá đông người, nhà ở cách nhiệt kém, vệ sinh kém, và chăm sóc sức khỏe không đủ (tuy nhiên, cần lưu ý rằng đây cũng là tình trạng thường xảy ra ở các nhà tù phương Tây cùng thời). Các tù nhân ở các trại thuận lợi hơn thì có điều kiện sống tốt hơn, và được cung cấp thực phẩm và thuốc men ở mức cơ bản.

Nhà văn Aleksandr Solzhenitsyn, đã giới thiệu thuật ngữ Gulag cho thế giới phương Tây với việc xuất bản năm 1973 cuốn tiểu thuyết của mình. Cuốn sách kết nối các trại rải rác thành "một chuỗi các hòn đảo" và mô tả một hệ thống Gulag, nơi điều kiện làm việc rất cực nhọc[9] Một số học giả đồng tình với mô tả của Solzhenitsyn[19][20] Trong thời kỳ chiến tranh Lạnh, tác phẩm của Solzhenitsyn đã được truyền thông phương Tây tích cực sử dụng như một vũ khí truyên truyền chống lại Liên Xô. Nhưng theo Natalya Reshetovskaya, vợ của Aleksandr Solzhenitsyn, cho biết trong cuốn hồi ký của mình rằng tiểu thuyết của chồng bà đã được sáng tác dựa trên "các câu chuyện được nghe kể bên đống lửa và các nguồn hỗn tạp". Theo bà kể lại, Solzhenitsyn không hề coi cuốn sách là một tác phẩm nghiêm túc về lịch sử, nó hoàn toàn trái ngược với sự thật khách quan. Truyền thông Phương Tây đã đánh giá cuốn sách này quá cao và thẩm định nó một cách sai lầm[21].

Kênh đào Biển Trắng (The White Sea - Baltic Canal) là dự án lớn đầu tiên được xây dựng ở Liên Xô sử dụng lao động trong các trại Gulag

Sự khác biệt trong điều kiện sống cho các loại tù nhân được minh họa trong hồi ký của Victor Herman. Ông sống trong các trại Burepolom và Nuksha 2, cả hai đều gần Viatka, ở phía bắc của Nga. Tại Burepolom có ​​khoảng 3.000 tù nhân, tất cả đều là tù hình sự (trộm cắp, lừa đảo...), họ có thể đi dạo theo ý muốn, được canh gác ở mức nhẹ nhàng, sống trong các doanh trại với nệm và gối, và được xem chiếu phim. Chỉ ở Nuksha 2, nơi chứa các tội phạm nghiêm trọng (giết người, gián điệp, phá hoại tài sản quốc gia...), tù nhân mới phải sống trong khu biệt lập với các tháp canh có súng máy và không cho phép thư từ. Cách bố trí này cũng giống với các trại giam thời nay (có khu giam giữ riêng giành cho tội phạm nghiêm trọng và khu giam giữ chung cho tội phạm nhẹ)

Mục đích của Gulag là để giáo dục phạm nhân bằng lao động. Do đó, hầu hết các tù nhân phải thực hiện lao động sản xuất như chặt cây, xây nhà, làm đường... Các tù nhân có thể rút ngắn án phạt của họ bằng cách lao động vượt các chỉ tiêu công việc. Ví dụ, khi xây dựng kênh đào Baltic - Biển Trắng, 300 tù nhân đã được khen thưởng, 12.000 người được tha bổng, và 59.000 người đã bị giảm án nhờ lao động chăm chỉ trên công trường[22]

Vào tháng 5 năm 1934, các quyền dân sự đã được quy định cho phạm nhân, và từ tháng 1 năm 1935, phạm nhân có quyền tham gia bầu cử. Nếu tù nhân làm việc tốt và có kỷ luật, họ gần như có các quyền như những người lao động tự do. Điều kiện lao động trong các nhà tù được kiểm soát bởi cùng một bộ luật lao động áp dụng với người lao động tự do. Những người bị kết án lao động tại GULAG được hưởng hai tuần nghỉ phép mỗi năm sau 5 tháng đầu tiên. Tiền lương trả cho các tù nhân cũng giống như những người lao động ngoài xã hội, dù ít hơn khoảng 25%, dao động trong khoảng 50 đến 60 rúp/tháng (để khấu trừ cho chi phí quản lý tù nhân, cũng như để tránh việc có những người cố ý phạm tội để được vào Gulag nhằm kiếm mức lương cao hơn). Một phần tiền lương được phát cho tù nhân để họ chi tiêu cho các nhu cầu cá nhân, một phần được đưa vào ngân hàng để khi ra trại, tù nhân sẽ có một số vốn nhất định để tái hòa nhập xã hội.

Một số trại Gulag thậm chí còn không khác gì so với một khu công nghiệp. Ví dụ như một trại Gulag bên ngoài Moscow, được gọi là Bolshevo. Được thành lập dành cho trẻ em vô gia cư, nó đã trở thành một trong những trại giam tiến bộ nhất cho những thanh thiếu niên phạm tội, cả nam lẫn nữ. Khu trại có 2000 tù nhân, không có các bức tường và với rất ít lính gác, các thanh thiếu niên học nghề cùng nhau, những người ngoài sẽ có cảm giác đó như là một làng công nghiệp tuyệt vời[23]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Các hệ thống cưỡng bức lao động khác của Liên Xô không nằm trong Gulag bao gồm: (a) các trại cho tủ nhân chiến tranh bị Liên Xô bắt, do GUPVI quản lý (b) filtration camps created during World War II for temporary detention of Soviet Ostarbeiters and prisoners of war while they were being screened by the security organs in order to "filter out" the black sheep, (c) "special settlements" for internal exiles including "kulaks" and deported ethnic minorities, such as Volga Germans, Poles, Balts, Caucasians, Crimean Tartars, and others. During certain periods of Soviet history, each of them kept millions of people. Many hundreds of thousand were also sentenced to forced labour without imprisonment at their normal place of work (Applebaum, pages 579-580)
  2. ^ [1]
  3. ^ “Демографические потери от репрессий”. Demoscope.ru. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2011. 
  4. ^ Система исправительно-трудовых лагерей в СССР
  5. ^ BBCVietnamese.com | Diễn đàn | Solzhenitsyn, bậc trưởng lão của văn học Nga
  6. ^ để tham khảo, hãy đọc bài Anatoli Marchenko
  7. ^ a ă â Getty, Rittersporn, Zemskov. Victims of the Soviet Penal System in the Pre-War Years: A First Approach on the Basis of Archival Evidence. The American Historical Review, Vol. 98, No. 4 (Oct., 1993), pp. 1017-1049
  8. ^ Stephen Wheatcroft. "The Scale and Nature of German and Soviet Repression and Mass Killings, 1930-45", Europe-Asia Studies, Vol. 48, No. 8 (Dec., 1996), pp. 1319-1353
  9. ^ a ă Applebaum, Anne (2003) Gulag: A History. Doubleday. ISBN 0767900561
  10. ^ Gulag: a History of the Soviet Camps". Arlindo-correia.com. http://www.arlindo-correia.com/041003.html. Truy cập 2009-01-06.
  11. ^ Theo Conquest, giữa 1939 và 1953, tỷ lệ chết hàng năm tại các trại lao động là 10%, cao là 20% năm 1938. Robert Conquest trong cuốn "Victims of Stalinism: A Comment." Europe-Asia Studies, Vol. 49, No. 7 (Nov., 1997), pp. 1317-1319 nói: "We are all inclined to accept the Zemskov totals (even if not as complete) with their 14 million intake to Gulag 'camps' alone, to which must be added 4-5 million going to Gulag 'colonies', to say nothing of the 3.5 million already in, or sent to, 'labour settlements'. However taken, these are surely 'high' figures."
  12. ^ Szymanski, Albert Human Rights in the Soviet Union. London: Zed Books, 1984, p. 246
  13. ^ Steven Rosefielde. Red Holocaust. Routledge, 2009. ISBN 0415777577 pg. 67 "...more complete archival data increases camp deaths by 19.4 percent to 1,258,537" ("nhiều dữ liệu lưu trữ đầy đủ cho biết số tử vong tăng hơn trong các trại bằng 19,4% bằng 1.258.537); pg 77: "The best archivally based estimate of Gulag excess deaths at present is 1.6 million from 1929 to 1953." ("Dữ liệu tốt nhất ước tính các trường hợp tử vong trong Gulag hiện nay là 1,6 triệu từ 1929 đến 1953")
  14. ^ Ellman, Michael. Soviet Repression Statistics: Some Comments Europe-Asia Studies. Vol 54, No. 7, 2002, 1151-1172
  15. ^ Applebaum, Anne (2003) Gulag: A History. Doubleday. ISBN 0767900561 pg 583: "both archives and memoirs indicate that it was common practice in many camps to release prisoners who were on the point of dying, thereby lowering camp death statistics."
  16. ^ Zemskov, Gulag, Sociologičeskije issledovanija, 1991, No. 6, pp. 14-15
  17. ^ http://www.northstarcompass.org/nsc9912/lies.htm
  18. ^ Werth, Alexander. Russia, The Post-War Years. New York: Taplinger Pub. 1971, p 30
  19. ^ Alexander Nikolaevich Yakovlev. A Century of Violence in Soviet Russia. Yale University Press, 2002. ISBN 0-300-08760-8 p. 15
  20. ^ Steven Rosefielde. Red Holocaust. Routledge, 2009. ISBN 0415777577 pg. 247: "They served as killing fields during much of the Stalin period, and as a vast pool of cheap labor for state projects."
  21. ^ Lewis, Paul (6 tháng 6 năm 2003). “Natalya Reshetovskaya, 84, Is Dead; Solzhenitsyn's Wife Questioned 'Gulag'. The New York Times. ISSN 0362-4331. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2017. 
  22. ^ Life and Terror in Stalin's Russia, 1934-1941. New Haven: Yale University Press, c1996, p. 102-104
  23. ^ Davis, Jerome. New Russia. New York: Công ty John Day, c 1933, p. 221-229

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]