Trạm Nhiên Viên Trừng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Trạm Nhiên Viên Trừng (1561- 1626, zh: 湛然圓澄, ja: Tannen Enchō), thiền sư trung quốc, đời thứ 27 Tông Tào Động, còn có hiệu là Tán Mộc Đạo Nhân, từng sống dưới thời nhà Minh, thế kỷ 16. Sư là pháp tử của Thiền Sư Từ Chu Phương Niệm, công cuộc hoằng pháp của sư đóng một vai trò quan trọng trong Thiền Tông Trung Quốc và đã góp phần phục hưng Tông Tào Động dưới thời Minh, Thanh. Dưới sư có nhiều đệ tử xuất sắc, trong đó có 8 vị nổi bật nhất là: Thụy Bạch Minh Tuyết, Thạch Vũ Minh Phương,Tam Nghi Minh Vu...

Cơ duyên[sửa | sửa mã nguồn]

Thiền sư Trung Quốc
Tam.jpg

Bồ-đề-đạt-ma đến Huệ Năng

Ngưu Đầu Thiền

Nhánh Thanh Nguyên Hành Tư

Nhánh Nam Nhạc Hoài Nhượng

Lâm Tế tông

Hoàng Long phái

Dương Kì phái

Tào Động tông

Quy Ngưỡng tông

Vân Môn tông

Pháp Nhãn tông

Không tông phái

Thiền sư ni

Cư sĩ


Sư sinh ngày 5 tháng 8 năm thứ 40 niên hiệu vua Gia Tĩnh, nhà Minh tại Cối Khê, Triết Giang, con nhà họ Hạ. Lớn lên sư làm người đưa thư, sau đó do có duyên lành với Thiền Tông, sư đến tham học với Thiền Sư Ngọc Phong, trong chúng sư đảm nhận làm người quét nhà xí.

Vào năm 24 tuổi, sư xuất gia với Đại sư Diệu Phong tại núi Tuế Thiên Hoang. Sư từng đến tham vấn và thọ giới cụ túc với Thiền Sư Vân Thê Châu Hoàng, một vị cao tăng thuộc Tông Lâm Tế chủ trương pháp môn Thiền Tịnh song tu, cũng là vị tổ thứ 8 của Tịnh Độ Tông. Sau sư đến tham yết Thiền Sư Nam Tông và quay lại tham vấn Thiền Sư Vân Thê Châu Hoàng một lần nữa.

Sư từng tham thoại đầu chữ “ Ai” ở chổ Trưởng Lão Ấn Phong 3 ngày thì có chút tỏ ngộ. Và sau đó sư tiếp tục tham câu thoại đầu ” Càn Phong nói một chẳng nói hai” 3 năm liền đại ngộ.

Vào năm thứ 19 (1591) niên hiệu Vạn Lịch, Thiền Sư Từ Chu Phương Niệm được các vị đại phu thỉnh đến thăng tòa thuyết pháp tại Chỉ Phong Đồ, Thiền Sư Trạm Nhiên Viên Trừng đến dưới pháp hội này và tham vấn. Vừa gặp, Thiền Sư Từ Chu mừng rỡ cho sự ngộ của sư và nhớ lại lời huyền ký của Tổ Huyễn Hữu Thường Thuận dặn dò sau này tìm một người làm rạng rỡ Tông Tào Động.

Thiền Sư Từ Chu hỏi: Từ Chỉ Phong Đồ đến Thanh Sơn, khi gần qua bờ Việt Vương Đài, ngó lại biển xanh, ông thấy như thế nào?

Sư đáp bài kệ:

Trăng xuyên thủng đáy hồ

Sóng vỗ ngập bờ mi

Chính niệm không nháy mắt

Ngài đem tông chỉ Tào Động hỏi, sư đều ứng đáp không ngại. Tổ biết sư là bậc đại pháp khí, liền ấn khả chứng minh và truyền pháp. Ngài khen ngợi: Sau này, ông sẽ cắt đứt lưỡi của mọi người trong thiên hạ!.

Hoằng pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Sư từng đến trụ trì tại nhiều nơi, làm cho Phật Pháp được hưng thịnh mạnh mẽ. Dưới đây là những nơi sư từng đến giáo hóa:

  1. Chùa Thọ Hưng (壽興寺)
  2. Vân Môn Truyền Trung Quảng Hiếu Tự (雲門傳忠廣孝寺)
  3. Kính Sơn Vạn Thọ Tự (徑山萬壽寺)
  4. Chùa Đông Tháp (東塔寺) ở Gia Hưng, Tỉnh Triết Giang
  5. Vân Môn Hiển Thánh Tự (雲門顯聖寺)
  6. Chùa Thiên Hoa (天華寺) ở Phủ Thiệu Hưng,Tỉnh Triết Giang
  7. Chùa Minh Tâm (明心寺)
  8. Thọ Thánh Tự (壽聖寺) ở Sơn Âm (山陰, Tỉnh Triết Giang
  9. Mai Dã Di Đà Am (梅野彌陀寺)
  10. Chùa Bảo Lâm (寳林寺)
  11. Chùa Thạch Phật (石佛寺) ở Tú Thủy, Tỉnh Triết Giang
  12. Chùa Thiên Ninh (天寧寺) ở Hải Diêm, Tỉnh Triết Giang
  13. Chùa Đại Thiện (大善寺) ở Phủ Thiệu Hưng
  14. Thiền Viện Viên Giác (圓覺禪院) ở Nam Kinh
  15. Chùa Diên Thọ (延壽寺)
  16. Am Nhất Túc (一宿菴) ở Côn Sơn,Tỉnh Giang Tô
  17. Đạo Tràng Vạn Thọ Tự (道塲萬壽寺) ở Hồ Châu,Tỉnh Triết Giang)
  18. Chùa Hoa Nghiêm (華嚴寺) ở Phủ Thiệu Hưng

Sư giáo hóa suốt 30 năm, làm cho Tông chỉ Tông Tào Động nối truyền về sau, người đến tham học rất đông,đặc biệt tại Vân Môn Hiển Thánh Tự, từng có hơn 8000 người đến tham học. Sư thường dùng Phất Tử để khai thị cho đại chúng như biểu thị cho tính chất Dĩ Tâm Truyền Tâm của Thiền Tông, và hay đưa ra các công án Thiền để phổ thuyết, dạy chúng tham thiền. Ở các nơi sư khai hóa, tứ chúng tu tập sinh hoạt tăng đoàn tinh nghiêm, mỗi ngày chuông trống đều rền vang.

Vào ngày mồng 4 tháng 12 năm thứ 6 niên hiệu vua Thiên Khải, nhà Minh. Sư an nhiên thị tịch, thọ 66 tuổi, 43 năm hạ lạp. Chúng xây tháp và an trí nhục thân sư tại phía Nam chùa Hiển Thánh ở Vân Môn. Sư có để lại tác phẩm Trạm Nhiên Viên Trừng Thiền Sư Ngữ Lục gồm 8 quyển, đến nay còn lưu hành ở đời.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Fo Guang Ta-tz'u-tien 佛光大辭典. Fo Guang Ta-tz'u-tien pien-hsiu wei-yuan-hui 佛光大辭典編修委員會. Taipei: Fo-kuang ch'u-pan-she, 1988. (Phật Quang Đại Từ điển. Phật Quang Đại Từ điển biên tu uỷ viên hội. Đài Bắc: Phật Quang xuất bản xã, 1988.)
  • Das Lexikon der Östlichen Weisheitslehren, Bern 1986.
  • Phật Tổ Đạo Ảnh, quyển 2, Thiền Sư Hư Vân biên soạn, đệ tử Đại Sư Tuyên Hóa hiệu đính.