Trạng nguyên

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Trạng nguyên (chữ Nôm: 狀元) là một danh hiệu thuộc học vị Tiến sĩ của người đỗ thứ hạng cao nhất trong các khoa đình, thời phong kiến ở Việt Nam. Người đỗ Trạng Nguyên và tất cả những người đỗ Tiến sĩ đều phải vượt qua cả 3 kỳ thi: thi Hương, thi Hộithi Đình. Trạng nguyên, Bảng nhãnThám hoa lần lượt là các danh hiệu giành cho các vị trí nhất, nhì, ba. [1]

Ngoài ra, Trạng nguyên cũng là một tước hiệu trong triều đình phong kiến Việt Nam. Trạng nguyên tương tự như là cố vấn cấp cao nhất của các Hoàng đế Đại Việt.

Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Việt Nam, năm 1247, vua Trần Thái Tông mới đặt ra tam giáp hay tam khôi là ba danh hiệu nói trên, mặc dù khoa cử đã có từ thời nhà Lý.

Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Trạng nguyên đầu tiên của Trung Quốc là Tôn Phục Già năm 622, trạng nguyên cuối cùng là Lưu Xuân Lâm năm 1904. Trong khoảng 1.300 năm tại Trung Quốc lấy 504 trạng nguyên? (nếu tính cả các trạng nguyên do nhà Liêu lấy là 18 người, nhà Kim 15 người, Đại Tây quốc 1 người (Trương Hiến Trung), Thái Bình thiên quốc 14 người thì tổng cộng có 552 trạng nguyên. Thời nhà Đường, không tổ chức điện thi (tức thi đình) mà chỉ tổ chức tỉnh thi (thi tỉnh). Bài thi trạng nguyên cổ nhất hiện còn giữ được là bài thi của Triệu Bỉnh Trung (1573-1626) thời nhà Minh. Cả cha và con đều đỗ trạng nguyên là chuyện rất hiếm. Cụ thể, tại Trung Quốc chỉ có:

Triều đại Số khoa thi Số trạng nguyên Ghi chú
Nhà Tùy 7 (tiến sĩ) Nhà Tùy ngắn ngủi, mới thi hành chế độ khoa cử.
Nhà Đường 263 148 Có sách nói nhà Đường tổ chức 270 kỳ thi
Ngũ đại Thập quốc 47 24
Nhà Tống 118 118
Nhà Liêu 57 56
Tây Hạ không rõ 1
Nhà Kim 41 39
Nhà Nguyên 16 32 Nhà Nguyên chia thí sinh người Hán và người Mông Cổ thành hai bảng tả, hữu. Mỗi khoa lấy 2 trạng nguyên
Nhà Minh 90 90
Đại Tây quốc 1 5
Nhà Thanh 112 114
Thái Bình thiên quốc không rõ 15
Tổng cộng 745 638

Cao Ly[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]