Chanh Thái

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Trấp)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Citrus hystrix Blanco3.407.jpg
Citrus hystrix
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Plantae
(không phân hạng) Angiospermae
(không phân hạng) Eudicots
(không phân hạng) Rosids
Bộ (ordo) Sapindales
Họ (familia) Rutaceae
Chi (genus) Citrus
Loài (species) C. hystrix
Danh pháp hai phần
Citrus hystrix
DC.

Chanh Thái (chanh số 8), Trấp[1], Trúc (trúc Bảy Núi)[2] (danh pháp hai phần: Citrus hystrix) thuộc chi Cam chanh, là một loài bản địa của Lào, Indonesia, MalaysiaThái Lan, hiện được trồng rộng rãi trên thế giới để làm gia vị, hương liệu và mỹ phẩm. Lá của loại cây này, còn được gọi là lá chanh kaffir, là một gia vị đặc trưng trong ẩm thực Thái Lan. Tại Việt Nam, cây mọc hoang và được trồng ở nhiều nơi nhưng phổ biến như một loài cây đặc hữu vùng Bảy Núi, An Giang[2].

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Chanh Thái là cây thân gỗ có độ cao từ nhỏ đến trung bình, cây trưởng thành có thể cao từ 2m đến 10m. Thân cây có gai ngang. Mầm không xanh mà ngả màu hung. Lá xoan xoan thuôn hay ngọn giáo, mép khía răng hay nguyên, chóp tròn hay lõm, có khi nhọn, màu xanh thẫm thùy kép, mọc đối, cuống lá có cánh rất rộng, có khi cũng to bằng phiến lá tạo nên hình lá gần tương tự số 8 (nên lá chanh này còn được gọi với tên "lá chanh số 8")[3], lá có tinh dầu, mùi thơm nồng. Hoa nhỏ, trắng hay vàng vàng xếp thành bó hay chùm ngắn ở nách lá, cánh hoa cao 7-10mm; nhị 24-30, rời. Quả tròn, vỏ sần sùi, màu lục, khi chín màu vàng, thịt quả màu vàng xanh, rất ít nước nhưng nước có vị the và rất chua. Cây ra hoa quả quanh năm[1].

Ứng dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Lá chanh Thái có vị the như lá chanh ta nhưng thơm nồng và gắt hơn, kích thích mạnh khứu giác và dịch vị người ăn, giúp khử tanh những món chứa độ đạm cao như bò, gà, lươn, rắn và trợ tiêu hóa. Người nội trợ cho rằng lá là sự pha trộn của hương vị lá chanh, lá bưởi non và tinh dầu lá cà ri tươi[4]. Không bị đắng và không mất hương dù nấu lâu, lá được sử dụng trong nhiều món ăn Ấn Độ, Nepal, Thái Lan, Lào, Việt Nam, Indonesia, Philippines, Bangladesh, Malaysia và nhiều nơi khác trên thế giới. Là gia vị đặc trưng trong ẩm thực Thái Lan, lá non cây chanh Thái được sử dụng ăn sống như một loại rau salad, lá bánh tẻ và lá già sử dụng trong các món cari, súp Thái, Tod Mun (chả cá Thái), lẩu Thái, món cá hấp Haw Moak, Pok Taek, làm siro đường, hấp cùng cơm, chế vào nước sốt ướp thịt lợn, thịt cừu, thịt gà. Trong ẩm thực Việt Nam lá chanh Thái được sử dụng cho món thịt gà hấp hay thái chỉ rắc lên gà luộc (tương tự chanh ta); các loại hải sản hấp (cá lóc, ốc, ngao, sò); lươn om hay xào lăn; cá kho, thịt kho; làm gỏi hến, gỏi gà; nấu các món lẩu, các món canh chua; làm giả cầy; thịt nướng v.v. Lá có thể dùng tươi, bảo quản trong ngăn đông tủ lạnh hay phơi khô để tồn trữ lâu dài. Với lá già, người nội trợ thường xé nhỏ và bỏ gân lá, cuống lá để tránh bị đắng, lá khô nên đập nhuyễn trước khi sử dụng.

Lá còn được kết hợp với sả, gừng để nấu nước tắm, mang lại hương thơm tự nhiên cho làn da, làm trong lành không gian nhà tắm.

Quả chanh Thái có nước cốt chua gắt, hơi the, dùng để ăn tươi, vắt nước cốt pha nước chấm, khử tanh hải sản hay lòng bò, làm mứt. Vùng Tri Tôn, An Giang nổi tiếng với đặc sản cháo bò trái trúc, món ăn của sự giao thoa văn hóa tộc người Khmer và người Việt. Quả cũng thường được ngâm rượu làm thuốc chữa đau bụng hay cảm mạo, chế nước gội đầu diệt gàu hay tắm rửa các phần khác của cơ thể. Kinh nghiệm dân gian còn dùng trái khử khuẩn ao nuôi cá, trị bệnh cho người và gia cầm, gia súc.

Vỏ quả làm hương liệu khử mùi nước, làm sạch và tạo hương cho nước uống; làm dược liệu trị bệnh tiêu hóa, giải cảm, chống nôn, chống say xe; chiết xuất tinh dầu làm mỹ phẩm. Vỏ của cây có khi cũng dùng làm hương liệu, nó có vị đặc trưng là dịu đồng thời lại đắng và cay.

Do dễ trồng, sống rất khỏe, chịu hạn giỏi, lá và quả khá độc đáo, cây cũng được trồng làm cảnh tại nhiều gia đình.

Thông tin khác[sửa | sửa mã nguồn]

Quả chanh Thái có thể được phơi sấy làm vị thuốc mang tên chỉ thực (Fructus ponciri Immaturi, Fructus aurantii Immaturi) và chỉ xác (Fructus Citri Aurantii)[5][6][7]. Tuy nhiên hai vị thuốc này, tùy vùng miền trải khắp Việt Nam và Trung Quốc, còn có thể được làm từ quả thuộc chi Citrus hay Poncirus như cây Hương duyên Citrus wilsonii Tanaka; cây Câu quất Poncirus trifoliata (L.) Raf; cây Toan đằng Citrus aurantium L.; cây Đại đại hoa Aurantium L. var amara Engl và nhiều cây khác họ Cam (Rutaceae).

Cũng có nơi tại Việt Nam, dân gian gọi tên "trấp", "chấp", "dấp" cho một loài cây nào đó thuộc họ Cam (Rutaceae), nhưng không phải là cây chanh Thái.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Trấp
  2. ^ a ă Thơm ngon hương trúc Bảy Núi
  3. ^ Lá chanh Thái Lan (lá chanh số 8)
  4. ^ Nồng nàn hương trúc
  5. ^ Chỉ thực
  6. ^ Chỉ xác
  7. ^ Chỉ xác cũng giống như Chỉ thực, Chỉ thực dùng quả non, còn Chỉ xác là quả hái vào lúc gần chín, thường bổ đôi để phơi cho mau khô.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nguyễn Tiến Bân (chủ biên). Danh lục các loài thực vật Việt Nam. Tập II. Nhà xuất bản Nông nghiệp. Hà Nội:2003. Trang 965.