Trần

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chữ Hán của "Trần" (陳)

Trần (chữ Hán: . Trung <>/ chén) là một họTrung Quốc, Việt Nam, Đài Loan, Hồng Kông, Singapore và một số nơi khác trên thế giới. Đây cũng là tên của một triều đại của lịch sử Việt Nam và một triều đại khácTrung Quốc.

Theo thăm dò của Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc, tháng 1 năm 2006, họ Trần đứng thứ 5 về số người tại Trung Quốc. Họ Trần phổ biến hơn tại miền Nam Trung Quốc. Tại Đài Loan, đây cũng là họ phổ biến nhất, chiếm 11% dân số.[1]

Tại Singapore, họ này thỉnh thoảng được viết với ký tự LatinhChern. Theo tiếng Quảng Đông, họ này cũng được viết với ký tự Latinh là Chan. Một số cách viết Latinh khác (từ các phương ngữ khác nhau) cũng có thể bắt gặp là Tan (Tân) (tiếng Mân Nam), Tang, Ding (tiếng Phúc Châu), Chin (tiếng Khách Gia, tiếng Nhật: ちん), Chun hay Jin (진) (tiếng Triều Tiên), Zen (giọng Thượng Hải). Ở Việt Nam, nhiều người ở miền Bắc (ngoại trừ vùng hạ lưu sông Hồng và ven biển[2]) phát âm "tr" trong chữ "Trần" thành "ch"; trong khi nhiều nơi khác đọc theo chuẩn tiếng Việt.

Theo lối chiết tự, chữ Trần còn có thể đọc là Đông A (vì được ghép từ hai chữ Đông (東) và A (阿)). Khi nhà Trần tại Việt Nam giành chiến thắng trong ba cuộc kháng chiến chống quân Mông Nguyên, khí thế chiến đấu của quân dân nhà Trần còn được gọi là "hào khí Đông A".

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Danh từ họ Trần bắt nguồn từ họ Quy (媯, bính âm: Gūi), một họ Trung Quốc cổ, hậu duệ của vua Thuấn, một trong Tam Hoàng Ngũ Đế.[3] Khi Chu Vũ Vương thiết lập nhà Chu, ông đã dành vùng đất Trần cho các con cháu vua Thuấn thành lập quốc gia riêng. Để thể hiện sự kính trọng tới vua Thuấn, tiểu quốc Trần được xem là một trong ba khách quốc của nhà Chu (tam khác, 三恪, bính âm: Sān Kè), nghĩa là quốc gia này không bị lệ thuộc mà chỉ là khách. Tuy nhiên, về sau, lãnh thổ này bị nước Sở chiếm đóng vào thế kỷ 5 TCN. Từ đó, những người sống tại đây lấy Trần làm họ của mình.

Vùng đất Trần thời Chu Vũ Vương cũng là nơi Vĩ Mãn, con Ngu Yên, hậu duệ vua Ngu Thuấn được phong vương và khởi sinh họ Hồ tại đây. Theo Sử ký Tư Mã Thiên, Hồ công Mãn là thủy tổ họ Trần chứ không phải họ Hồ. Vua Chu Vũ Vương sau khi diệt nhà Thương, tìm được Quy Mãn là dòng dõi vua Thuấn và phong cho làm vua nước nước Trần. Sau khi mất, Mãn được đặt thụy hiệu là Trần Hồ công. Công là tước, Hồ là thụy hiệu chứ không phải họ. Từ Trần Hồ công truyền các đời, tới Trần Tương công, Trần Thân công... Các vua nước Trần từ thời Tây Chu trở đi đều là dòng dõi Trần Hồ công chứ không phải mang họ Hồ.

Tại Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Tổ tiên của dòng dõi nhà Trần tại Việt Nam có nguồn gốc dân tộc Mân ở quận Tần Châu, tỉnh Phúc Kiến, Trung Hoa. Đất Mân là vùng cư trú của tộc Mân Việt thuộc dòng Bách Việt. Người Bách Việt vốn sống từ sông Trường Giang về phía Nam. Theo nghiên cứu của học giả Đào Duy Anh có tới 500 tộc Bách Việt sống rải rác ở Hoa Nam Trung Quốc, Miến Điện, bắc Việt Nam, bắc Lào, hình thành một số bộ tộc lớn: người Âu Việt ở vùng Chiết Giang-Trung Quốc ngày nay, người Mân Việt ở vùng đất Mân (tỉnh Phúc Kiến)-Trung Quốc ngày nay, người Dương Việt ở vùng đông Hồ Nam, một phần Hồ Bắc, Giang Tây, Quảng Đông, người Lạc Việt ở vùng tây Hồ Nam, Quảng Tây, phần bắc và trung Việt Nam ngày nay, người Điền Việt ở vùng Vân Nam-Trung Quốc ngày nay.

Thời Kinh Dương vương dựng nước đặt tên nước là Xích Quỷ (tên hai ngôi sao ứng với vùng đất này), đông giáp biển Đông, tây giáp Ba Thục (tỉnh Tứ Xuyên-Trung Quốc ngày nay), bắc giáp hồ Động Đình (tỉnh Hồ Nam – Trung Quốc ngày nay), nam giáp Hồ Tôn (tỉnh Khánh Hòa–Việt Nam ngày nay). Sau khi thống nhất Trung Quốc, năm 218 trước công nguyên, Tần Thủy Hoàng mở cuộc chiến tranh xâm lược ra các nước xung quanh, sai tướng Đồ Thư đem 50 vạn quân đi trường kỳ đánh người Việt ở phương nam. Trước sức mạnh của quân Tần, các tộc Việt lui dần về phía Nam. Năm 208 trước công nguyên, liên quân Lạc Việt, Tây Âu và các tộc Việt khác đã hợp lực đại phá quân Tần, giết chết Đồ Thư, tiêu diệt mấy chục vạn quân Tần. Tần Nhị Thế buộc phải bãi binh. Vùng đất chiếm được, nhà Tần đặt thành các quận, huyện. Đất Mân đặt tên là quận Mân Trung. Đến đời nhà Đường đặt tên là Phúc Kiến quan sát sứ, rồi sau này đổi thành tỉnh Phúc Kiến ngày nay.

Trần Quốc Kinh từ Phúc Kiến sang Việt Nam vào khoảng năm 1110, thời vua Lý Nhân Tông (1072-1127), lúc đầu cư trú tại xã An Sinh, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh ngày nay; sống bằng nghề chài lưới trên sông nước, trên đường làm ăn chuyển dần vào hương Tức Mạc, huyện Thiên Trường (Nam Định). Đến đời con là Trần Hấp dời mộ tổ sang sinh sống tại Tam Đường, phủ Long Hưng, nay là vùng đất thuộc Thái Bình.[4] Trần Hấp sinh ra Trần Lý. Trần Lý sinh ra Trần Thừa (sau được tôn là Trần Thái Tổ), Trần Tự KhánhTrần Thị Dung.

Những người Việt Nam họ Trần nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trước thời nhà Trần[sửa | sửa mã nguồn]

Thời Trần - Hồ[sửa | sửa mã nguồn]

Giai đoạn nhà Trần - Nhà Hồ có nhiều danh nhân, người nổi tiếng mang họ Trần, có thể kể đến như:[6]

Các vị vua đời Trần bao gồm:

Tổ tiên của các vua nhà Trần:

Các thế hệ tông thất khai quốc:

Các tông thất nhà Trần có công lao cho đất nước:

Danh tướng Trần Hưng Đạo

Các tôn thất nhà Trần khác:

Các văn thần, danh nhân:

Võ tướng nhà Tây Sơn Trần Quang Diệu

Thời Lê - Mạc[8][sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Nguyên Hãn, danh tướng khởi nghĩa Lam Sơn
  • Trần Lựu, tướng giỏi của Lê Lợi, người đã dụ được Liễu Thăng lọt vào thế trận phục kích ở ải Chi Lăng
  • Trần Bàn, sứ thần nhà Lê sang nhà Minh vào năm Nhâm Ngọ (1462).
  • Trần Phong, quan lại trong viện Khâm hình triều đình thời Lê Thánh Tông
  • Trần Khắc Minh (cháu của Trình Khanh, đã đổi lại họ Trần), đỗ Tiến sĩ khoa Giáp Thìn 1484, niên hiệu Hồng Đức thứ mười lăm đời Lê Thánh Tông. Sau ông làm quan đến chức Thượng thư bộ Lễ kiêm Đông các đại học sỹ, tước Lương Nhân hầu.
  • Uy Mục Trần Hoàng hậu Trần Thị Tùng, vợ của Lê Uy Mục.
  • Trần Cảo: Tự nhận là dòng dõi 5 đời của Trần Thái Tông, tự xưng làm Đế Thích thiên, tự phong làm Vua, lấy hiệu là Thiên Ứng.
  • Trần Cung (Trần Thăng) là con của Trần Cảo, kế thừa sự nghiệp của cha, cũng xưng làm vua, lấy hiệu là Tuyên Hòa.
  • Trần Tuân: Tướng khởi nghĩa thời Lê Sơ
  • Trần Chân, là vị tướng giỏi thời Lê, đã có công đánh dẹp các lộ quân khởi nghĩa thời Lê sơ.
  • Trần Danh Lâm, quan triều Lê Trung Hưng
  • Trần Độc, nhà thầy thuốc Việt Nam, thầy của Lê Hữu Trác
  • Trần Cảnh, quan nhà Trịnh tham gia đàn áp cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Hữu Cầu nhưng thất bại và bị cách chức
  • Trần Đăng Tuyển, quan nhà Lê Trung Hưng
  • Trần Sùng Dĩnh: Trạng nguyên khoa Đinh Mùi niên hiệu Hồng Đức thứ 18 (1487), đời Lê Thánh Tông.
  • Trần Văn Bảo (1524 - 1610) đỗ Trạng nguyên khoa Canh Tuất, niên hiệu Cảnh Lịch thứ 3 (1550), đời Mạc Tuyên Tông
  • Trần Bảo Tín
  • Trần Tất Văn: trạng nguyên thời Lê Cung Hoàng
  • Trần Công Xán (Trần Công Thức): Vị quan giỏi hùng biện thời Lê
  • Trần Danh Ninh: Hoàng Giáp khoa Tân hợi 1731, vị quan giỏi văn võ toàn tài..
  • Trần Danh Án: Hoàng giáp khoa cuối cùng nhà lê, Trung thần trụ cột của nhà lê mạt lúc bấy giờ
Tập tin:TranPhu.gif
Tổng bí thư đầu tiên Trần Phú

Thời Nguyễn[9] - Pháp thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà văn, nhà cách mạng Trần Huy Liệu

Chính trị, Quân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Thời Việt Nam Cộng hòa[10][sửa | sửa mã nguồn]

Quan chức, chính khách

Tướng lĩnh

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Quan chức, chính khách

Nhà vănNam Cao

Tướng lĩnh, chỉ huy quân sự, lực lượng vũ trang

Khác

Tại hải ngoại[sửa | sửa mã nguồn]

Lực lượng bất đồng chính kiến[sửa | sửa mã nguồn]

Tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Khoa học[sửa | sửa mã nguồn]

Văn học - Nghệ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Âm nhạc - Điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Thể thao[sửa | sửa mã nguồn]

Lĩnh vực khác[sửa | sửa mã nguồn]

Những người mang họ Trần nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới đây là những người tuy không thuộc họ Trần nhưng đã được ban cho mang họ này (thời nhà Trần) hoặc có bí danh, bút danh phổ biến mang họ Trần

Những người Trung Quốc họ Trần nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Các vị quân chủ nước Trần thời cổ đại Trung Quốc

Từ thời Hán trở về trước

Thời nhà nhà Trần (Trung Quốc) Gồm 05 vị Hoàng đế như:

Thời nhà Lương đế nhà Đường

Thời nhà Tống đến nhà Thanh

Chính trị, quân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Điện ảnh - âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Lĩnh vực khác[sửa | sửa mã nguồn]

Những người họ Trần nổi tiếng ở các quốc gia khác[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 10 họ phổ biến nhất Đài Loan
  2. ^ Phương ngữ Việt Nam
  3. ^ Sử ký, Ngũ đế bản kỷ
  4. ^ Long Hưng, vùng đất phát nghiệp đế
  5. ^ Việc gán tên Trần Thị Đoan cho bà Man Thiện chỉ phỏng theo ngọc phả sau này
  6. ^ Giai đoạn này liên tiếp với nhau về thời gian, hầu hết các danh nhân, nhân vật nổi tiếng ở thời nhà Hồ đều có quá trình ra đời, trưởng thành trong giai đoạn nhà Trần trị vì
  7. ^ Trần Bình Trọng vốn dòng dõi họ Lê nhưng được sinh ra do hôn phối trong tầng lớp quý tộc Trần, sau này ông được phong Vương (Bảo Nghĩa Vương
  8. ^ Tính luôn giai đoạn chúa Trịnh
  9. ^ Tính luôn giai đoạn chúa Nguyễn và nhà Tây Sơn
  10. ^ Tính luôn cả quốc gia Việt Nam
  11. ^ Sử ký chép ông này là Trần Lệ công và cai trị nước Trần 7 năm. Xem Xuân Thu tả truyện chú.
  12. ^ Sử ký chép ông này là Trần Lợi công và cai trị nước Trần 5 tháng. Xem Xuân Thu tả truyện chú.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]