Trần

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chữ Hán của "Trần" (陳)

Trần (chữ Hán: . Trung <>/ chén) là một họTrung Quốc, Việt Nam, Đài Loan, Hồng Kông, Singapore và một số nơi khác trên thế giới. Đây cũng là tên của một triều đại của lịch sử Việt Nam và một triều đại khácTrung Quốc.

Theo thăm dò của Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc, tháng 1 năm 2006, họ Trần đứng thứ 5 về số người tại Trung Quốc. Họ Trần phổ biến hơn tại miền Nam Trung Quốc. Tại Đài Loan, đây cũng là họ phổ biến nhất, chiếm 11% dân số.[1]

Tại Singapore, họ này thỉnh thoảng được viết với ký tự LatinhChern. Theo tiếng Quảng Đông, họ này cũng được viết với ký tự Latinh là Chan. Một số cách viết Latinh khác (từ các phương ngữ khác nhau) cũng có thể bắt gặp là Tan (Tân) (tiếng Mân Nam), Tang, Ding (tiếng Phúc Châu), Chin (tiếng Khách Gia, tiếng Nhật: ちん), Chun hay Jin (진) (tiếng Triều Tiên), Zen (giọng Thượng Hải). Ở Việt Nam, nhiều người ở miền Bắc (ngoại trừ vùng hạ lưu sông Hồng và ven biển[2]) phát âm "tr" trong chữ "Trần" thành "ch"; trong khi nhiều nơi khác đọc theo chuẩn tiếng Việt.

Theo lối chiết tự, chữ Trần còn có thể đọc là Đông A (vì được ghép từ hai chữ Đông (東) và A (阿)). Khi nhà Trần tại Việt Nam giành chiến thắng trong ba cuộc kháng chiến chống quân Mông Nguyên, khí thế chiến đấu của quân dân nhà Trần còn được gọi là "hào khí Đông A".

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Danh từ họ Trần bắt nguồn từ họ Quy (媯, bính âm: Gūi), một họ Trung Quốc cổ, hậu duệ của vua Thuấn, một trong Tam Hoàng Ngũ Đế.[3] Khi Chu Vũ Vương thiết lập nhà Chu, ông đã dành vùng đất Trần cho các con cháu vua Thuấn thành lập quốc gia riêng. Để thể hiện sự kính trọng tới vua Thuấn, tiểu quốc Trần được xem là một trong ba khách quốc của nhà Chu (tam khác, 三恪, bính âm: Sān Kè), nghĩa là quốc gia này không bị lệ thuộc mà chỉ là khách. Tuy nhiên, về sau, lãnh thổ này bị nước Sở chiếm đóng vào thế kỷ 5 TCN. Từ đó, những người sống tại đây lấy Trần làm họ của mình.

Vùng đất Trần thời Chu Vũ Vương cũng là nơi Vĩ Mãn, con Ngu Yên, hậu duệ vua Ngu Thuấn được phong vương và khởi sinh họ Hồ tại đây. Theo Sử ký Tư Mã Thiên, Hồ công Mãn là thủy tổ họ Trần chứ không phải họ Hồ. Vua Chu Vũ Vương sau khi diệt nhà Thương, tìm được Quy Mãn là dòng dõi vua Thuấn và phong cho làm vua nước nước Trần. Sau khi mất, Mãn được đặt thụy hiệu là Trần Hồ công. Công là tước, Hồ là thụy hiệu chứ không phải họ. Từ Trần Hồ công truyền các đời, tới Trần Tương công, Trần Thân công... Các vua nước Trần từ thời Tây Chu trở đi đều là dòng dõi Trần Hồ công chứ không phải mang họ Hồ.

Tại Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Tổ tiên của dòng dõi nhà Trần tại Việt Nam có nguồn gốc dân tộc Mân ở quận Tần Châu, tỉnh Phúc Kiến, Trung Hoa. Đất Mân là vùng cư trú của tộc Mân Việt thuộc dòng Bách Việt. Người Bách Việt vốn sống từ sông Trường Giang về phía Nam. Theo nghiên cứu của học giả Đào Duy Anh có tới 500 tộc Bách Việt sống rải rác ở Hoa Nam Trung Quốc, Miến Điện, bắc Việt Nam, bắc Lào, hình thành một số bộ tộc lớn: người Âu Việt ở vùng Chiết Giang-Trung Quốc ngày nay, người Mân Việt ở vùng đất Mân (tỉnh Phúc Kiến)-Trung Quốc ngày nay, người Dương Việt ở vùng đông Hồ Nam, một phần Hồ Bắc, Giang Tây, Quảng Đông, người Lạc Việt ở vùng tây Hồ Nam, Quảng Tây, phần bắc và trung Việt Nam ngày nay, người Điền Việt ở vùng Vân Nam-Trung Quốc ngày nay.

Thời Kinh Dương vương dựng nước đặt tên nước là Xích Quỷ (tên hai ngôi sao ứng với vùng đất này), đông giáp biển Đông, tây giáp Ba Thục (tỉnh Tứ Xuyên-Trung Quốc ngày nay), bắc giáp hồ Động Đình (tỉnh Hồ Nam – Trung Quốc ngày nay), nam giáp Hồ Tôn (tỉnh Khánh Hòa–Việt Nam ngày nay). Sau khi thống nhất Trung Quốc, năm 218 trước công nguyên, Tần Thủy Hoàng mở cuộc chiến tranh xâm lược ra các nước xung quanh, sai tướng Đồ Thư đem 50 vạn quân đi trường kỳ đánh người Việt ở phương nam. Trước sức mạnh của quân Tần, các tộc Việt lui dần về phía Nam. Năm 208 trước công nguyên, liên quân Lạc Việt, Tây Âu và các tộc Việt khác đã hợp lực đại phá quân Tần, giết chết Đồ Thư, tiêu diệt mấy chục vạn quân Tần. Tần Nhị Thế buộc phải bãi binh. Vùng đất chiếm được, nhà Tần đặt thành các quận, huyện. Đất Mân đặt tên là quận Mân Trung. Đến đời nhà Đường đặt tên là Phúc Kiến quan sát sứ, rồi sau này đổi thành tỉnh Phúc Kiến ngày nay.

Trần Quốc Kinh từ Phúc Kiến sang Việt Nam vào khoảng năm 1110, thời vua Lý Nhân Tông (1072-1127), lúc đầu cư trú tại xã An Sinh, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh ngày nay; sống bằng nghề chài lưới trên sông nước, trên đường làm ăn chuyển dần vào hương Tức Mạc, huyện Thiên Trường (Nam Định). Đến đời con là Trần Hấp dời mộ tổ sang sinh sống tại Tam Đường, phủ Long Hưng, nay là vùng đất thuộc Thái Bình.[4] Trần Hấp sinh ra Trần Lý. Trần Lý sinh ra Trần Thừa (sau được tôn là Trần Thái Tổ), Trần Tự KhánhTrần Thị Dung.

HỌ TRẦN NHỮNG LẦN THAY ĐỔI HỌ TÊN:

Họ Trần, còn gọi là họ "Đông A". Thuở ban đầu, khi họ Trần còn làm nghề đánh cá, trưởng môn phái võ lâm họ Trần là Trần Tự An chiết tự chữ Trần 陳 (chữ hán) thành hai chữ A 阿 (chỉ lấy chữ liễu leo phía trước) và chữ Đông 東 để đặt tên võ phái họ Trần là võ phái Đông A. Một họ Trần... nhiều lần phải đổi sang họ khác do có nhiều biến cố trong lịch sử, có khi một người, có khi cả họ, trong một làng, một vùng.

1- Đại việt sử ký toàn thư chép: Tháng 5 năm Kỷ Sửu, Trùng Hưng năm thứ năm (1289) đời vua Trần Nhân Tông, sau hai lần đánh thắng quân Nguyên Mông (1285 - 1288) triều đình thực hiện bình công luận tội không phân biệt dân thường hay người hoàng tộc: "Những kẻ nào trước đây đã đầu hàng giặc thì dù bản thân có ở trong triều đình của giặc cũng kết án vắng mặt, xử tội đi đày hoặc tử hình, tịch thu điền sản sung công, tước bỏ quốc tính (họ vua) như bọn Trần Kiện, con trai Tĩnh Quốc vương Trần Quốc Khang, bọn Trần Lộng (cháu nội Thống quốc Thái sư Trần Thủ Độ) phải đổi sang họ Mai, còn Ích Tắc vì là chỗ thân tình cốt nhục (em vua), tuy bị trị tội cũng như mọi người, nhưng không bắt đổi họ xóa tên, chỉ gọi là Ả Trần, cho là hèn nhát như đàn bà. Khi về già, ông có hối lại, để thời gian viết lịch sử và gia phả dòng họ, hiện nay còn lưu truyền.

2- Năm 1395, Hố Quý Ly giết hại tôn thất nhà Trần là Trần Nguyên Uyên, Trần Nguyên Dận... và theo lệ cũ của nhà Trần, cũng bắt đổi làm họ Mai.  Như vậy là có hai họ Mai ở hai thời kỳ cách nhau 106 năm (1289 - 1395). Họ Mai lần trước là những người có sai lầm đầu hàng giặc, họ Mai lần sau là những người bảo vệ họ Trần, chống lại Hồ Quý Ly.

3- Năm 1429, thời vua Lê Thái Tổ, năm Thuận Thiên thứ hai, vì vụ Tả tướng quốc Trần Nguyên Hãn bị vua Lê Lợi bức hại, cả họ phải đổi sang họ khác:

- Chi trưởng (thánh phái) đổi làm họ Nguyễn.

- Chi thứ nối sau Trần Nguyên Hãn đổi làm họ Đào, họ Đặng.

- Các chi khác đổi làm họ Bùi, họ Hoàng.

Qua mỗi lần thay đổi họ cho thấy Tổ tiên họ Trần đều có cách làm riêng để con cháu đời sau dễ dàng nhận ra dòng dõi của mình. Còn vụ Trần Nguyên Hãn thì làm sao vừa che mắt được triều đình nhà Lê, vừa để con cháu đời sau tìm ra dòng dõi của mình một cách chính xác, có ý thức về cội nguồn và truyền thống.

Có người bàn rằng: Cứ suy ngẫm cách quy định của phái thánh đổi làm họ Nguyễn, lấy liễu leo đứng trước chữ Nguyên thành chữ Nguyễn 阮  là dòng  trưởng, dòng anh, lại còn có ý nghĩa phải nhớ lấy niên hiệu Nguyên Phong của đời vua Trần Thái Tông.

- Họ Đào có 4 chữ Đào:

+ Đào có chữ liễu leo đứng trước 陶 là họ Đào, còn có nghĩa là nhớ nhung, ghi nhớ, thương nhớ gốc.

+ Đào 濤 là ba đào, sóng gió.

+ Đào 桃 là cây đào.

+ Đào 逃  là trốn tránh, đào tẩu.

Thông thường trong gia phả của họ Đào dùng chữ 陶 (nhớ nhung, ghi nhớ), có nơi dùng chữ 濤 (ba đào, sóng gió), còn hai chữ khác ít dùng.

- Họ Đặng 鄧gồm chữ Đăng 登 đứng trước chữ liễu leo là dòng thứ, dòng em, lại còn có ý nghĩa là ngọn đèn nhà Trần vẫn sáng, không bao giờ tắt.

- Họ Bùi 裴gồm hai chữ phi 非  và y 衤ghép thành. Phi y có nghĩa là không có áo, là cởi trần, tức là họ Trần.

- Họ Hoàng 皇 do hai chữ bạch 白 và vương 王 ghép thành, có nghĩa là vua áo trắng, vua không có kinh đô. Bác Hoàng Tùng, nguyên Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương là họ Trần, tên Trần Văn Khánh.

Có tài liệu còn nói họ Võ có người là họ gốc Trần.

(1)- Họ Đào Trần 陶 陳 ở Phường Minh Nông, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ ngày nay, họ Đào Trần xã Hùng Đô, xã Quang Húc, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ, họ Đào Trần xã Yên Lập, huyện Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Phúc ngày nay là gốc Trần. Tổ họ là Trần Đăng Huy, con trai thứ hai của phu nhân thứ hai Tả tướng quốc Trần Nguyên Hãn.

Năm 1429, khi được tin vua Lê Thái Tổ cho quân về bắt, Tả tướng quốc Trần Nguyên Hãn đã kịp cho bà vợ Hai đưa 3 người con trai của bà chạy đi lánh nạn. Sau nhiều năm bôn ba, thay họ đổi tên, lẩn tránh ở nhiều nơi, như kẻ tha phương cầu thực, bà và các con đến làng Kẻ Nú, huyện Phù Khang, phủ Tam Đới, trấn Sơn Tây nay là phường Minh Nông, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Nơi đây có đường bộ, đường thủy thuận tiện đi các nơi. Bà phân chia 3 người con đi 3 hướng tìm đường ẩn cư. Người con cả bà đưa lên vùng Tuyên Quang, sau đó sang vùng Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình ngày nay, từ đó mất tin tức chưa tìm lại được.

Người con trai thứ hai là Trần Đăng Huy, bà để lại ở Minh Nông. Vùng kẻ Nú có ba họ lớn mang tên họ Đào không cùng nguồn gốc. Nhờ được một chức sắc họ Đào có uy tín trong làng, che chở giúp đỡ, cho ngụ cư ở ven sông Hồng để mưu sinh và đổi thành họ Đào. Khi có con, ông cho  người con lớn lên vùng Tam Nông, nay phát triển thành 3 chi nhánh họ Đào ở Hùng Đô, Quang Húc huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ và ở Yên Lập, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc là những nơi gần sông, tiện đường về Sơn Đông. Người con nhỏ ở lại Minh Nông một thời gian, gia đình lại rời đi lên vùng Yên Bái, sau đó sang vùng Bắc Sơn Tây, rồi phân chia, một nhánh sang Lào, một nhánh trở về vùng Thạch Thất, tỉnh Sơn Tây cũ. Mỗi lần di chuyển là một lần thay họ, đổi tên. Cuối thế kỷ 18, chi trưởng về lại xóm Giải làng ven sông Hồng thuộc làng Minh Nông, tổng Minh Nông, huyện Hạc Trì, tỉnh Phú Thọ định cư đến ngày nay.

Từ thời phong kiến, hàng năm họ Đào Trần Minh Nông đều có người về liên hệ với họ Trần làng Quan Tử, xã Sơn Đông để lên đền cúng lễ Tả tướng quốc, nhưng tuyệt đối giữ kín không để lộ có con cháu Trần Nguyên Hãn từ xa trở về.

Người con thứ ba là Trần Trung Khoản, lúc đầu vào châu Ái (Thanh Hóa) đổi là họ Quách, sau thấy không yên lại vào châu Hoan (Nghệ An) đổi thành họ Mai, sau nữa chạy lên vùng Quàn Triều, Thái Nguyên đổi thành họ Nguyễn, tiếp đó chạy lên Cao Bằng. Sau khi được tin vua Lê Thánh Tông đã minh oan cho Nguyễn Trãi, con cháu trở về vùng Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa (nay là xã Quảng Đông, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa) sinh cơ lập nghiệp đổi về lại họ Trần.

(2)- Họ Đặng ở Lương Xá, Chương Mỹ, Hà Tây cũ là gốc Trần.

Năm 1511 đời vua Lê Tương Dực có Trần Tuân... là hậu duệ của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn, khởi bimh chống lại triều đình, đã chiếm vùng Sơn Tây, Từ Liêm rồi tiến về Thăng Long, do chủ quan nên bị Trịnh Duy Sản đánh bại, phải đổi ra họ Đặng, lấy danh hiệu của cụ Tổ là Trần Văn Trừng (tức Huy) đỗ tiến sĩ năm Nhâm Tuất (năm 1442) triều vua Lê Thánh Tông làm quan đến Hình bộ Thượng thư Đặc Tiến Kim Tử Vĩnh Lộc Đại Phu Dương Khê Hậu, danh hiệu Đặng Hiên tiên sinh. Họ Đặng này gốc ở Lương Xá - Mỹ Đức - Phú Xuyên - Hà Tây cũ, một chi sau này chuyển về Xuân Trường - Nam Định, một số chi ở vùng Phù Đổng - Bắc Ninh, Hưng Yên, Tam Nông - Phú Thọ vv... Dòng họ này lúc đầu có tên là Đặng Trần, các đời sau mở rộng mới đổi khác đi như Đặng Tiến, Đặng Xuân, Đặng  Quốc, Đặng Đình...

(3)- Ở vùng huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định có họ Cao Trần là dòng dõi Trần Nguyên Hãn thuộc dòng Phúc Quảng Nghệ An, cháu bốn đời Tả tướng quốc Trần Nguyên Hãn. Do biến cố lịch sử, năm 1573, Trịnh Tùng (con Trịnh Kiểm) giết vua Lê Anh Tông, bức hại quần thần của vua nên phải lánh chạy về ấp Hòe Nha, trấn Sơn Nam Hạ (nay là xã Giao Tiến, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định) đổi thành họ Cao Trần (họ Cao mang gốc họ Trần).

(4)- Ở thành phố Nam Định còn có họ Đỗ thuộc dòng dõi Trần Khát Chân.    

(5)- Họ Trình.- đời vua Lê Thánh Tông (1431 - 1442) nhà Lê bắt họ Trần phải đổi thành họ Trình với lý do kiêng húy của Cung Từ Quốc Thái Hậu là mẹ vua Lê Thái Tông tên là Phạm Thị Ngọc Trần. Đây là sự bắt buộc vô lý nên chỉ có ít người theo, một thời gian sau lại đổi về họ Trần.   

(6)- Họ Dương... theo Trần gia thế phả của dòng họ Trần Quốc Tảng thì họ Trần còn có tên là họ Dương, chữ Dương có bộ liễu leo của chữ Trần 陳 đứng trước chữ dịch 易 có nghĩa là mặt trời đã thay đổi.

Qua nhiều lần biến thiên về chính trị xã hội, nhiều lần phải thay đổi họ tên nhưng tổ tiên họ Trần xưa đã ý thức được về cội nguồn để nhắc nhở con cháu dễ nhận ra nhau và phải nhớ lấy dòng máu anh hùng bất khuất của "Hào Khí Đông A".

Một số chi họ trải qua những thời gian dài ẩn tích, thay tên đổi họ nhiều lần để tồn tại, đến thời kỳ lịch sử  đổi ngôi họ khác lên làm vua, đã tìm cách lấy lại họ Trần.

Những người Việt Nam họ Trần nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trước thời nhà Trần[sửa | sửa mã nguồn]

Thời Trần - Hồ[sửa | sửa mã nguồn]

Giai đoạn nhà Trần - Nhà Hồ có nhiều danh nhân, người nổi tiếng mang họ Trần, có thể kể đến như:[6]

Các vị vua đời Trần bao gồm:

Tổ tiên của các vua nhà Trần:

Các thế hệ tông thất khai quốc:

Các tông thất nhà Trần có công lao cho đất nước:

Danh tướng Trần Hưng Đạo

Các tôn thất nhà Trần khác:

Các văn thần, danh nhân:

Võ tướng nhà Tây Sơn Trần Quang Diệu

Thời Lê - Mạc[8][sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Nguyên Hãn, danh tướng khởi nghĩa Lam Sơn
  • Trần Lựu, tướng giỏi của Lê Lợi, người đã dụ được Liễu Thăng lọt vào thế trận phục kích ở ải Chi Lăng
  • Trần Bàn, sứ thần nhà Lê sang nhà Minh vào năm Nhâm Ngọ (1462).
  • Trần Phong, quan lại trong viện Khâm hình triều đình thời Lê Thánh Tông
  • Trần Khắc Minh (cháu của Trình Khanh, đã đổi lại họ Trần), đỗ Tiến sĩ khoa Giáp Thìn 1484, niên hiệu Hồng Đức thứ mười lăm đời Lê Thánh Tông. Sau ông làm quan đến chức Thượng thư bộ Lễ kiêm Đông các đại học sỹ, tước Lương Nhân hầu.
  • Uy Mục Trần Hoàng hậu Trần Thị Tùng, vợ của Lê Uy Mục.
  • Trần Cảo: Tự nhận là dòng dõi 5 đời của Trần Thái Tông, tự xưng làm Đế Thích thiên, tự phong làm Vua, lấy hiệu là Thiên Ứng.
  • Trần Cung (Trần Thăng) là con của Trần Cảo, kế thừa sự nghiệp của cha, cũng xưng làm vua, lấy hiệu là Tuyên Hòa.
  • Trần Tuân: Tướng khởi nghĩa thời Lê Sơ
  • Trần Chân, là vị tướng giỏi thời Lê, đã có công đánh dẹp các lộ quân khởi nghĩa thời Lê sơ.
  • Trần Danh Lâm, quan triều Lê Trung Hưng
  • Trần Độc, nhà thầy thuốc Việt Nam, thầy của Lê Hữu Trác
  • Trần Cảnh, quan nhà Trịnh tham gia đàn áp cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Hữu Cầu nhưng thất bại và bị cách chức
  • Trần Đăng Tuyển, quan nhà Lê Trung Hưng
  • Trần Sùng Dĩnh: Trạng nguyên khoa Đinh Mùi niên hiệu Hồng Đức thứ 18 (1487), đời Lê Thánh Tông.
  • Trần Văn Bảo (1524 - 1610) đỗ Trạng nguyên khoa Canh Tuất, niên hiệu Cảnh Lịch thứ 3 (1550), đời Mạc Tuyên Tông
  • Trần Bảo Tín
  • Trần Tất Văn: trạng nguyên thời Lê Cung Hoàng
  • Trần Công Xán (Trần Công Thức): Vị quan giỏi hùng biện thời Lê
  • Trần Danh Ninh: Hoàng Giáp khoa Tân hợi 1731, vị quan giỏi văn võ toàn tài..
  • Trần Danh Án: Hoàng giáp khoa cuối cùng nhà lê, Trung thần trụ cột của nhà lê mạt lúc bấy giờ
Tổng bí thư đầu tiên Trần Phú

Thời Nguyễn[9] - Pháp thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà văn, nhà cách mạng Trần Huy Liệu

Chính trị, Quân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Thời Việt Nam Cộng hòa[10][sửa | sửa mã nguồn]

Quan chức, chính khách

Tướng lĩnh

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Quan chức, chính khách

Nhà vănNam Cao

Tướng lĩnh, chỉ huy quân sự, lực lượng vũ trang

Khác

Tại hải ngoại[sửa | sửa mã nguồn]

Lực lượng bất đồng chính kiến[sửa | sửa mã nguồn]

Tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Khoa học[sửa | sửa mã nguồn]

Văn học - Nghệ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Âm nhạc - Điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Thể thao[sửa | sửa mã nguồn]

Lĩnh vực khác[sửa | sửa mã nguồn]

Những người mang họ Trần nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới đây là những người tuy không thuộc họ Trần nhưng đã được ban cho mang họ này (thời nhà Trần) hoặc có bí danh, bút danh phổ biến mang họ Trần

Những người Trung Quốc họ Trần nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Các vị quân chủ nước Trần thời cổ đại Trung Quốc

Từ thời Hán trở về trước

Thời nhà nhà Trần (Trung Quốc) Gồm 05 vị Hoàng đế như:

Thời nhà Lương đế nhà Đường

Thời nhà Tống đến nhà Thanh

Chính trị, quân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Điện ảnh - âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Lĩnh vực khác[sửa | sửa mã nguồn]

Những người họ Trần nổi tiếng ở các quốc gia khác[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 10 họ phổ biến nhất Đài Loan
  2. ^ Phương ngữ Việt Nam
  3. ^ Sử ký, Ngũ đế bản kỷ
  4. ^ Long Hưng, vùng đất phát nghiệp đế
  5. ^ Việc gán tên Trần Thị Đoan cho bà Man Thiện chỉ phỏng theo ngọc phả sau này
  6. ^ Giai đoạn này liên tiếp với nhau về thời gian, hầu hết các danh nhân, nhân vật nổi tiếng ở thời nhà Hồ đều có quá trình ra đời, trưởng thành trong giai đoạn nhà Trần trị vì
  7. ^ Trần Bình Trọng vốn dòng dõi họ Lê nhưng được sinh ra do hôn phối trong tầng lớp quý tộc Trần, sau này ông được phong Vương (Bảo Nghĩa Vương
  8. ^ Tính luôn giai đoạn chúa Trịnh
  9. ^ Tính luôn giai đoạn chúa Nguyễn và nhà Tây Sơn
  10. ^ Tính luôn cả quốc gia Việt Nam
  11. ^ Sử ký chép ông này là Trần Lệ công và cai trị nước Trần 7 năm. Xem Xuân Thu tả truyện chú.
  12. ^ Sử ký chép ông này là Trần Lợi công và cai trị nước Trần 5 tháng. Xem Xuân Thu tả truyện chú.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]