Trần A Kiều

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Hiếu Vũ Trần hoàng hậu
孝武陳皇后
Hán Vũ Đế Hoàng hậu
Hoàng hậu nhà Hán
Tại vị 141 TCN130 TCN
Tiền vị Hiếu Cảnh Vương hoàng hậu
Kế vị Vệ Tư hậu
Thông tin chung
Phối ngẫu Hán Vũ Đế
Hậu duệ Không có
Tên đầy đủ Sử sách không ghi
Hán Võ cố sự ghi là Trần A Kiều (陈阿娇)
Thân phụ Trần Ngọ
Thân mẫu Quán Đào công chúa
An táng Lang Quan đình (郎官亭), huyện Bá Lăng, đông nam Trường An

Hiếu Vũ Trần hoàng hậu (chữ Hán: 孝武陳皇后), hay được gọi là Trần A Kiều (陳阿嬌) hay Trần Kiều (陳嬌), Hoàng hậu thứ nhất của Hán Vũ Đế Lưu Triệt, hoàng đế thứ 7 nhà Tây Hán.

Với vai trò quan trọng trong việc lên ngôi của Hán Vũ Đế, Trần hoàng hậu trở thành một trong những Hoàng hậu nổi tiếng nhất Trung Quốc. Bà cũng là vị Hoàng hậu xuất thân hiển hách nhất dưới thời Hán và kể cả các thời sau.

Về sau, bà bị phế truất vì không sinh được con, được xem là vị Phế hậu nổi tiếng nhất trong lịch sử. Giai thoại chuyện tình giữa bà và Hán Vũ Đế trở thành điển tích, được gọi là Kim ốc tàng Kiều (金屋藏嬌; nhà vàng cất người đẹp).

Cuộc đời[sửa | sửa mã nguồn]

Gia thế hiển quý[sửa | sửa mã nguồn]

Tên thật của Trần hoàng hậu không được các bộ sử như Sử kýHán thư ghi lại. Theo tiểu thuyết Hán Võ cố sự thì bà tên là Trần A Kiều (陳阿嬌), hay gọi tắt là Trần Kiều (陳嬌).

Cha của Trần Kiều là Trần Ngọ (陳午), đời thứ 3 của Đường Ấp hầu (堂邑侯)[1][2]. Nhà họ Trần vốn theo giúp Hán Cao Tổ Lưu Bang dựng nên nhà Hán nên được phong tước Đường Ấp hầu. Mẹ bà là Quán Đào Công chúa Lưu Phiếu - hoàng nữ của Hán Văn Đế Lưu Hằng và Hiếu Văn Đậu Hoàng hậu, hoàng tỷ của Hán Cảnh Đế Lưu Khải và cô mẫu của Hán Vũ Đế Lưu Triệt. Bà có 2 anh trai là Đường Ấp hầu Trần Tu (陳須) và Long Lư hầu Trần Kiểu (陳蟜).

Theo vai vế, Trần Hoàng hậu là cháu gọi Hán Văn Đế và Đậu hoàng hậu là ông bà ngoại, gọi Hán Cảnh Đế là cậu. Bà cũng là biểu tỷ của Hán Vũ Đế và Bình Dương công chúa. Luận xuất thân, bà là Hoàng hậu có thân thế tôn quý nhất trong lịch sử Trung Quốc vì có ông ngoại, cậu và phu quân đều là Hoàng đế.

Đại Hán Hoàng thái tử phi[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới thời Hán Cảnh Đế, Quán Đào Trưởng công chúa được phép ra vào cung tự do để thăm mẹ. Bà giữ quan hệ mật thiết với Hán Cảnh Đế, thường xuyên hiến tặng mỹ nữ khiến Lịch Cơ - sủng phi của ông ghi hận. Sau khi Bạc hoàng hậu bị phế, Cảnh Đế lập trưởng tử Lưu Vinh, con trai Lịch Cơ làm Hoàng thái tử[3]. Quán Đào muốn con gái làm Hoàng hậu tương lai nên ngỏ ý gả con cho thái tử Lưu Vinh[4][5], kết quả bị Lịch Cơ cự tuyệt khiến bà căm phẫn[6].

Nhân dịp đó, Vương phu nhân - phi tần khác của Hán Cảnh Đế bày mưu giành ngôi Thái tử cho con mình là Giao Đông vương Lưu Triệt, nên đã chấp nhận lời quan hệ hôn nhân với Trưởng công chúa[7]. Trưởng công chúa đồng ý liên thủ với Vương phu nhân, nói tốt Lưu Triệt trước mặt Cảnh Đế, gièm pha Lịch Cơ khiến ông không hài lòng. Vương phu nhân sau đó cùng Trưởng công chúa ngầm sai đại thần tấu thỉnh lập Lịch Cơ làm Kế hoàng hậu. Hán Cảnh Đế đang chán ghét Lịch Cơ, cho rằng Lịch Cơ có mưu đồ xúi giục đại thần nên ra chiếu phế truất Thái tử Lưu Vinh, Lịch Cơ phẫn uất tự sát[8].

Năm Hán Cảnh Đế Tiền Nguyên thứ 7 (150 TCN), Hán Cảnh Đế phong Vương phu nhân làm Hoàng hậu, Lưu Triệt làm Thái tử, Trần thị trở thành Thái tử phi[9] .

Không rõ tuổi tác Trần thị so với Lưu Triệt lớn hơn hay nhỏ hơn. Dựa theo việc Quán Đào công chúa muốn gả bà cho Lưu Vinh lúc ông 18 tuổi, các sử gia phán đoán có thể Trần thị lớn tuổi hơn Lưu Triệt vì Lưu Vinh lớn hơn Lưu Triệt tới mấy tuổi[10]. Theo pháp lệnh được quy định từ thời Hán Huệ Đế, con gái trên 15 tuổi mới được lấy chồng[11] nhưng có thể lúc đó bà vẫn chưa tới 15 tuổi vì Thượng Quan hoàng hậu, cháu ngoại đại thần Hoắc Quang, cũng lấy Hán Chiêu Đế khi mới 6 tuổi[12]. Nếu bà nhỏ tuổi hơn Lưu Triệt, tức là khi Quán Đào công chúa cầu thân Lịch Cơ năm 153 TCN, Trần thị chỉ mới 3 tuổi. Nếu cứ cho là 151 TCN, thì cùng lắm Trần thị chỉ mới 5 tuổi, nhỏ hơn Lưu Vinh tới hơn 12 tuổi, quá sức không hợp lý. Dù Hoắc Quang từng ép thành công Thượng Quang hoàng hậu mới 6 tuổi thành hôn với Hán Chiêu Đế, song sự kiện năm đó đã rất bị nhiều người phản đối. Nếu Trần thị bằng hoặc nhỏ tuổi hơn Lưu Vinh, thì năm cầu thân đó ít nhất cũng phải trên 15 tuổi, tức là lớn hơn Lưu Triệt tầm 12 tuổi, như vậy năm Lưu Triệt thành Thái tử là 7 tuổi, thì Trần thị cũng đã 19 tuổi.

Qua cuộc hôn nhân này, Trần thị có thể nói là người phụ nữ có ảnh hưởng lớn nhất tới sự nghiệp của Hán Vũ Đế, vì nhờ cưới bà, mẹ con Hán Vũ Đế mới nhận được sự hậu thuẫn của Quán Đào công chúa, chiến thắng mẹ con Lịch Cơ mà đoạt được vị trí Thái tử.

Đại Hán Hoàng hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Hậu Nguyên thứ 3 (141 TCN), Hán Cảnh Đế băng hà, Thái tử Lưu Triệt lên ngôi, tức Hán Vũ Đế. Thái tử phi Trần thị trở thành Hoàng hậu[13][14][15].

Tình cảm hai người mặn nồng thuở sơ khai. Hán Vũ Đế thường lui tới cung của Trần hoàng hậu mỗi khi tan triều, cùng bà tận hưởng những ngày quấn quýt yêu thương. Về sau, Trần hậu không sinh được con nên bị thất sủng[16]. Nhiều sử gia cho rằng Hán Vũ Đế xem trọng Trần Hoàng hậu chỉ vì bà là thanh mai trúc mã từ bé, ngoài ra Quán Đào có ơn trong việc phò trợ ông đăng cơ. Tuy nhiên, Trần Hoàng hậu từ bé được nuông chiều nên tính nết ương ngạnh, cậy được Đậu Thái hoàng thái hậu sủng ái, lại có mẹ là Trưởng Công chúa từng lập đại công nên hống hách với cả Vũ Đế, dẫn đến phu thê bất hòa. Bấy giờ, Thái úy Vũ An hầu đồn rằng Hoàng đế vô tự thì ngôi Hoàng đế về sau sẽ thuộc về Hoài Nam vương[17]. Hoàng hậu mãi chưa có tin vui nên tiêu tốn hàng trăm lượng bạc để tìm phương thuốc trợ thai, song vẫn vô dụng. Tâm trạng bà ngày càng buồn bực, Vũ Đế muốn sủng hạnh phi tần khác thì bị bà ghen tuông ngăn cản, thỉnh thoảng than phiền với Thái hoàng thái hậu khiến Vũ Đế trở nên chán ghét.

Năm Kiến Nguyên thứ 2 (139 TCN), Hán Vũ Đế ghé thăm phủ Bình Dương công chúa, đã gặp và sủng hạnh người đẹp Vệ Tử Phu, nhạc nữ của Bình Dương Phủ. Trần hoàng hậu vô cùng đố kỵ, ngăn cản Vũ Đế ban cho Vệ Cơ danh phận. Vũ Đế mới lên ngôi hai năm, còn chịu ảnh hưởng ngoại thích nên không tiện làm trái[18]. Vệ Cơ vì thế không được triệu hạnh suốt một năm đầu[19][20][21]. Một năm sau, Vệ Cơ xin viên hoạn quan xuất cung cùng các cung nữ già, trước khi đi được đưa đến gặp Vũ Đế lần cuối. Vũ Đế thấy Vệ Cơ liền động lòng giữ lại, từ đó bà đoạt lại ân sủng, lần lượt sinh 3 công chúa cho Vũ Đế, được phong làm Phu nhân. Lúc đó hậu cung chưa có ai sinh nở nên Vũ Đế ân ái Vệ phu nhân, đối với Trần hoàng hậu càng thêm lạnh nhạt.

Thất sủng và bị phế[sửa | sửa mã nguồn]

Quán Đào công chúa muốn giúp Trần hoàng hậu rửa hận nên lập mưu bắt giết em trai Vệ phu nhân là Vệ Thanh, song Vệ Thanh được Công Tôn Ngao (公孫敖) giải thoát. Vệ phu nhân tố cáo tội lỗi của Quán Đào rồi khóc lóc xin Vũ Đế chủ trì công đạo. Vũ Đế lập tức ban cho Vệ Thanh chức Kiến cung Tổng quản hàm thị trung, không lâu sau lại được phong làm Xa kỵ Tướng quân. Trần hoàng hậu uất hận Vệ Tử Phu, nhiều lần sai người hạ độc nhưng đều bị Hán Vũ Đế ngăn cản. Tình cảm Đế-Hậu do đó rạn nứt[22]. Bà nhiều lần dọa tự vẫn nhưng Vũ Đế vẫn không quan tâm.

Năm Nguyên Quang thứ 5 (130 TCN), Trần hoàng hậu triệu tập người đồng cốt tên Sở Phục (楚服) vào cung để sử dụng tà thuật vu cổ, giúp bà chóng mang thai và nguyền rủa Vệ Tử Phu. Việc này bị phát giác do có người tố cáo, Hán Vũ Đế vô cùng tức giận, lập tức định tội Hoàng hậu, giao cho Trương Thang điều tra[23]. Cuối cùng, ông ra chiếu phế truất Trần Hoàng hậu, đày bà vào Trường Môn cung (長門宮). Hoàng đế ban chiếu lấy lý do rằng:"Hoàng hậu không con, lại vướng vào việc Vu hoặc, không thể thừa Thiên mệnh. Nay tịch thu ấn, bãi cư Trường Môn cung", còn Sở Phục và hơn 300 người bị xử tử[24].

Sử sách không ghi lại năm mất của Trần hoàng hậu hay thọ bao nhiêu tuổi, chỉ viết bà tại vị ngôi Hậu chừng hơn 20 năm từ năm 151 TCN đến năm 130 TCN. Thi hài bà được an táng ở mặt Đông của Lang Quan đình (郎官亭), huyện Bá Lăng, ở phía đông nam 30 dặm của thành Trường An[25]. Có thuyết kể rằng thời gian Trần hoàng hậu ngã bệnh, Hoàng hậu Vệ Tử Phu có đến Trường Môn cung thăm hỏi. Bà ra sức xin Vệ hoàng hậu thuyết phục Hán Vũ Đế đến gặp lần cuối nhưng Vũ Đế đến chết cũng không gặp bà.

Năm Nguyên Đỉnh nguyên niên (116 TCN), Quán Đào công chúa qua đời. Sau cái chết của Công chúa, nhà họ Trần trở nên suy sụp. Trong lúc để tang mẹ, 2 người anh trai của Trần Kiều là Trần TuTrần Kiểu, do tranh giành tài sản dẫn đến phạm pháp nên bị tước bỏ chức vị. Trần Tu sợ hãi bèn tự sát[26].

Hình tượng trong văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Hình tượng Trần hoàng hậu xuất hiện rất nhiều trong các tác phẩm văn học thời xưa. Theo đó, những điển tích nổi tiếng về bà như Kim ốc tàng kiều, Thiên kim mãi phú đều được dân gian lưu truyền đến giờ:

  • Hán Võ cố sự (漢武故事), bộ tiểu thuyết lịch sử về Hán Vũ Đế. Theo tiểu thuyết này, tên thật của bà là Trần A Kiều, và Lưu Triệt cùng Trần hậu thành hôn trước khi Bạc hoàng hậu, Hoàng hậu đầu tiên của Hán Cảnh Đế bị phế. Điều này khác với ghi chép trong Sử ký.
  • Thiên Kim mãi phú (千金買賦), do Tiêu Thống đời nhà Lương chủ biên.

Thời nay, hình tượng A Kiều trở thành nữ chính trong rất nhiều câu chuyện về thâm cung bí sử, trong đó vạch ra nhiều khả năng liên quan đến cuộc đời bí ẩn của bà:

  • Kim Ốc Hận.
  • Trường Môn Phú.
  • A Kiều.
  • Nơi nào kim ốc có thể tàng kiều.

Kim ốc tàng kiều[sửa | sửa mã nguồn]

Có một truyền thuyết cực kì nổi tiếng về Trần Hoàng hậu, đó là Kim ốc tàng Kiều (金屋藏嬌), nghĩa là "nhà vàng cất người đẹp". Đây là một câu ngạn ngữ nổi tiếng, được biết đến như một lời định ước của phu quân đối với nguyên phối thê tử, là một trong những câu nagn5 ngữ cổ điển nổi tiếng nhất trong văn hóa Trung Quốc.

Theo nghiên cứu, câu nói này xuất phát từ tiểu thuyết Hán Võ cố sự thời Tào Ngụy - Tây Tấn. Nội dung cụ thể như sau:

Thiên kim mãi phú[sửa | sửa mã nguồn]

Truyền thuyết Thiên kim mãi phú xuất phát từ Trường môn phú (長門賦), một bài phú tương truyền của Tư Mã Tương Như được liệt vào trong Chiêu minh văn tuyển (昭明文選) do Tiêu Thống đời nhà Lương chủ biên.

Theo sự tích, Trần Hoàng hậu vừa bị thất sủng, vừa bị giam giữ, lòng buồn tê tái, khóc than suốt ngày và nhớ lại những ngày hạnh phúc cùng Hán Vũ Đế. Sau đó, Trần Hoàng hậu bèn nhờ Tư Mã Tương Như, nhà thơ nổi tiếng bấy giờ, sáng tác bài "Trường môn phú" với lời lẽ, ý tứ tha thiết rồi tìm cách dâng lên Vũ Đế. Đọc xong bài thơ, thấu tỏ tấm chân tình của Trần Hoàng hậu, Vũ Đế xúc động bồi hồi, bèn phục ân hạnh.

Nguyên bài thơ:

Trong điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Phim ảnh Diễn viên
2003 Đại Hán thiên tử Hà Giai Di
2004 Hán Vũ đại đế Từ Hồng Na
2010 Mỹ nhân tâm kế Cống Mễ
2014 Đại Hán hiền hậu Vệ Tử Phu Trịnh Miểu Chi

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Sử ký Tư Mã Thiên, các thiên
    • Ngũ Tông thế gia
    • Vệ tướng quân Phiêu kỵ tướng quân truyện
    • Ngoại thích thế gia
    • Hán Hưng dĩ lai chư hầu vương niên biểu
    • Huệ Cảnh nhàn hầu giả niên biểu
  • Hán thư, các thiên
    • Huệ Đế kỷ
    • Cao Huệ Cao Hậu Văn công thần biểu
    • Vệ Thanh Hoắc Khứ Bệnh truyện
    • Cảnh thập tam vương truyện
    • Hoắc Quang Kim Nhật Đê truyện
    • Ngoại thích truyện
    • Bách quan công khanh biểu

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Tư Mã Thiên. “Sử ký, quyển 17: Hán Hưng dĩ lai chư hầu vương niên biểu”. 
  2. ^ Ban Cố. “Hán thư, quyển 16: Cao Huệ Cao Hậu Văn công thần biểu”. 
  3. ^ Tư Mã Thiên. “Sử ký, quyển 59: Ngũ tông thế gia”. 
  4. ^ Tư Mã Thiên. “Sử ký, quyển 59: Ngũ tông thế gia”. 
  5. ^ Ban Cố. “Hán thư, quyển 53: Cảnh thập tam vương truyện”. 
  6. ^ Bản mẫu:Wikisource history“立荣为太子。长公主嫖有女,欲予为妃。”
  7. ^ Tư Mã Thiên. “Sử ký, quyển 49: Ngoại thích thế gia”. 
  8. ^ Sử ký, Hiếu Vũ bản kỉ
  9. ^ Ban Cố. “Hán thư, quyển 53: Cảnh thập tam vương truyện”. 
  10. ^ 汉景帝(前188年-前141年)共有十四子。刘荣为景帝长子,生年不详。汉武帝刘彻生于公元前157年,为景帝中子,具体排行不详。两人的异母兄弟江都易王刘非生于公元前169年或前168年。刘非还有一个同母兄长劉余,即使刘荣与刘余同年出生,亦比刘彻大十二岁。
    • 汉书 卷五十三 景十三王传第二十三》“吴、楚反(即七国之乱,发生于公元前154年)时,年十五,有材气,上书自请击吴。”
  11. ^ Ban Cố. “Hán thư, quyển 2: Huệ Đế kỉ”. 
  12. ^ Ban Cố. “Hán thư, quyển 68: Hoắc Quang Kim Nhật Đê truyện”. 
  13. ^ Tư Mã Thiên. “Sử ký, quyển 12: Hiếu Vũ bản kỉ”. 
  14. ^ Ban Cố. “Hán thư, quyển 6: Vũ Đế kỉ”. 
  15. ^ Tư Mã Quang. “Tư trị thông giám, quyển 17”. 
  16. ^ 《史记 淮南衡山列传第五十八》及建元二年,淮南王入朝。素善武安侯,武安侯时为太尉,乃逆王霸上,与王语曰:“方今上无太子,大王亲高皇帝孙,行仁义,天下莫不闻。即宫车一日晏驾,非大王当谁立者!”
  17. ^ Tư Mã Thiên. “Sử ký, quyển 118: Hoài Nam Hành Sơn liệt truyện”. 
  18. ^ 《史记 淮南衡山列传第五十八》及建元二年,淮南王入朝。素善武安侯,武安侯时为太尉,乃逆王霸上,与王语曰:“方今上无太子,大王亲高皇帝孙,行仁义,天下莫不闻。即宫车一日晏驾,非大王当谁立者!”
  19. ^ Chu Mục, Trần Thâm, sách đã dẫn, tr 298
  20. ^ Hướng Tư, sách đã dẫn, tr 143
  21. ^ 司马迁《史记·外戚世家》载:“入宫岁馀,竟不复幸。”
  22. ^ Tư Mã Thiên. “Sử ký, quyển 110: Hung Nô liệt truyện”. 
  23. ^ Tư Mã Quang. “Tư trị thông giám, quyển 18”. 
  24. ^ 班固《汉书·外戚传》:初,武帝得立为太子,长主有力,取主女为妃。及帝即位,立为皇后,擅宠骄贵,十余年而无子,闻卫子夫得幸,几死者数焉。上愈怒。后又挟妇人媚道,颇觉。元光五年,上遂穷治之,女子楚服等坐为皇后巫蛊祠祭祝诅,大逆无道,相连及诛者三百余人,楚服枭首于市。使有司赐皇后策曰:“皇后失序,惑于巫祝,不可以承天命。其上玺绶,罢退居长门宫。”
  25. ^ Ban Cố. “Hán thư, quyển 97: Ngoại thích truyện”. : 后数年,废后乃薨,葬霸陵郎官亭东。这里的霸陵指霸陵县。霸陵县郎官亭在长安东南三十里,霸陵则位于汉长安城未央宫前殿遗址东南57公里处。
  26. ^ Tư Mã Thiên. “Sử ký, quyển 19: Huệ Cảnh nhàn hầu giả niên biểu”.