Trần Danh Án

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Trần Danh Án (陳名案, 1754-1794), hiệu: Liễu Am, Tản Ông; là nhà thơ và là quan nhà Lê trung hưng trong lịch sử Việt Nam. Ông là tác giả của "Nam phong giải trào", một công trình sưu tập ca dao được nhiều nhà nghiên cứu xem là xưa nhất[1] [2].

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trần Danh Án là người làng Bảo Triện, huyện Gia Bình, trấn Kinh Bắc, nay thuộc tỉnh Bắc Ninh.

Xuất thân trong một gia đình khoa bảng, có nhiều người làm quan lớn trong triều. Ông nội là Tiến sĩ Trần Phụ Dực, làm quan đến chức Tư huấn Quốc Tử Giám, tham gia soạn "Đại Việt sử ký tục biên". Bác ruột ông là Tiến sĩ Trần Danh Ninh và cha ông là Tiến sĩ Trần Danh Lâm (cùng đỗ Tiến sĩ năm 1731), cùng làm quan đồng triều và đều trải đến chức Thượng thư.

Trần Danh Án thông minh học giỏi. Năm Chiêu Thống thứ nhất (1787), ông thi đỗ Hoàng Giáp khoa khoa Đinh Mùi (khoa thi cuối cùng của triều Hậu Lê), được bổ chức quan. Tháng 12 năm đó, tướng Tây Sơn là Vũ Văn Nhậm kéo quân ra Thăng Long, vua Lê nghe lời Nguyễn Hữu Chỉnh, bỏ kinh thành chạy lên Kinh Bắc.

Tháng 4 năm Mậu Thân (1788), một trong ba thủ lĩnh phong trào Tây SơnNguyễn Huệ kéo quân ra Bắc, bắt giết tướng Nhậm. Trong khoảng thời gian ấy, Trần Danh Án và Lê Duy Đản được vua lê cử sang cầu cứu vua nhà Thanh (Trung Quốc). Sau đó, hơn 20 vạn quân Thanh rầm rộ kéo sang. Nhờ vậy, vua Lê giành lại được ngai vàng, phong cho Trần Danh Án là Tĩnh nạn công thần, tước Định Nhạc hầu.

Mùa xuân 1789, vua Quang Trung (tức Nguyễn Huệ) đại phá quân Thanh, vua Lê Chiêu Thống phải chạy sang Trung Quốc, còn Trần Danh Án thì lẻn trốn về quê nhà. Có lần triều Tây Sơn cho người mời ra cộng tác, nhưng ông đều tìm cách từ chối. Sách Lê quý dật sử chép:

Tây Sơn vời Trần Án (tức Trần Danh Án), tiến sĩ nhà Lê vào chầu. Án làm thơ cố ý cáo bệnh từ chối không đến. Vua Tây Sơn (Nguyễn Huệ) phê bằng son đỏ rằng: Cho được làm theo chí hướng cao thượng.
(Trần Danh) Án có thơ (dịch nghĩa):
Vô tri như loài ông, kiến còn có vua tôi.
Loài vật kia còn như thế, huống chi ta là người.
Họ Khấu[3], họ Đặng[4]. gặp vận khá, được phò ngôi vua Hán;
Họ Tạ[5], họ Văn[6] vận suy hổ thẹn làm dân nhà Nguyên.
Trời nếu không có ý cho vua (chỉ Lê Chiêu Thống) sống trở về
Ta cũng cam tâm làm tử thần.
Mong được đời sau đề lên mộ chí,
Đây là mộ tiến sĩ triều Lê họ Trần[7].

Năm 1793, vua Lê Chiêu Thống qua đời ở Trung Quốc. Nghe tin vua mất và mưu đồ phục quốc cũng tan tành, Trần Danh Án rất đau buồn, đến năm sau thì mất (1794). Lúc đó, ông mới 40 tuổi [8]

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Tác phẩm của Trần Danh Án có:

  • Liễu Am thi tập (Tập thơ Liễu Am; còn có các tên khác là: Liễu Am Tản Ông thi tập, Bảo Triện Trần Hoàng Giáp thi thảo, Bảo Triện Trần Hoàng giáp thi tập). Đây là tác phẩm chính của ông, được sáng tác khoảng từ 1788 cho đến trước khi mất (1794), gồm 141 bài thơ gồm những bài thơ đề vịnh, cảm tác, đi sứ, thù tặng, thơ họa đáp...Ngoài ra, trong tập còn có 2 bức thư chữ Hán bày tỏ tâm tư, cảnh ngộ từ lúc theo vua Lê Chiêu Thống khôi phục ngai vàng cho đến sau khi nhà Hậu Lê thất bạị.
  • Bảo Triện Trần Hoàng giáp thi văn tập (Tập thơ của Hoàng giáp họ Trần ở Bảo Triện), gồm những bài thơ, văn, phú, câu đối…
  • Lịch đại chính yếu luận (bàn về những điều chính yếu qua các đời). Đây là một tập luận văn có tính chất sử học, dùng nhiều thể văn (kể cả văn sách) để bàn luận về các chính sách quan trọng của các triều đại phong kiến, chủ yếu là từ nhà Đinh đến nhà Trần.
  • Nam phong giải tràoNam phong nữ ngạn thi (Ngạn ngữ bằng thơ về nữ giới trong phong dao nước Nam). Đây là hai quyển chép ca dao, tục ngữ Việt Nam do ông sưu tầm, ghi bằng chữ Nôm, một phần dịch sang chữ Hán.

Nhận xét[sửa | sửa mã nguồn]

Trần Danh Án gắn bó sâu sắc với nhà Hậu Lê. Vì vậy, khi triều đại này sụp đổ, ông cảm thấy đau xót, bất hợp tác với triều Tây Sơn. Nhưng dường như ông cũng cảm thấy triều đại mới này có những cái tốt đẹp không thể phủ nhận được, cho nên ông không có bài nào mạt sát hay đả kích triều Tây Sơn. Mâu thuẫn là ở chỗ ấy...Nhìn chung, thơ văn ông là hình ảnh khá chân thật của một tầng lớp quý tộc, bất lực với thời cuộc mà trong tâm lý vẫn không muốn thừa nhận điều đó...[9].

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Kiều Thu Hoạch (tháng 6 1978). “Nam phong giải trào: Lịch sử văn bản và giá trị văn học dân gian”.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  2. ^ Thụy Khuê (tháng 1 1991). “Cấu Trúc Thơ”. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2013.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  3. ^ Họ Khấu: chỉ Tiến sĩ Khấu Chuẩn, người đời Tống. Khi quân Khất Đan vào cướp phá, ông lập kế đuổi được, được phong làm Lai quốc công.
  4. ^ Họ Đặng: chỉ Đặng Vũ, người đời Đông Hán. Ông giúp Hán Quang Vũ Đế khởi binh, sau được phong tước Cao mật hầu.
  5. ^ Họ Tạ: chỉ Tiến sĩ Tạ Phòng Đắc, người cuối đời Tống. Khi quân Nguyên kéo đến, ông bại trận phải trốn vào núi Đường Thạch. Đối phương tìm được ông, áp giải ông lên phía bắc, ông nhịn ăn rồi chết.
  6. ^ Họ Văn: chỉ Tiến sĩ Văn Thiên Tường, người đời Tống. Lúc làm Thừa tướng, ông bị quân Nguyên đánh bại. Bị bắt giam, ông làm bài Chính khí ca để tỏ ý không chịu khuất phục, nên bị giết chết.
  7. ^ Lê quý dật sử, tr. 100-101.
  8. ^ Có nguồn nói rằng ông nhịn ăn mà chết. Xem: [1]. Tuy nhiên, tra trong các sách ở mục Sách tham khảo thì không thấy có thông tin này.
  9. ^ Tổng hợp theo Nguyễn Kim Hưng (tr. 1779) và Nguyễn Thạch Giang (tr. 93).

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Sách tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bùi Dương Lịch, Lê quý dật sử (bản dịch của Phạm Văn Thắm). Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 1987.
  • Nguyễn Kim Hưng, mục từ Trần Danh Án trong Từ điển Văn học (bộ mới). Nhà xuất bản Thế giới, 2004.
  • Nguyễn Thạch Giang, Văn học thế kỷ 18. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2004.